Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Ca sĩ Hà Hoài Thu trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh

Bài đăng trên Báo Quảng Ninh

"Mình luôn muốn giữ cá tính, cả trong cuộc sống, cả trên sân khấu..."

Cập nhật lúc 08:43, Chủ Nhật, 07/07/2013 (GMT+7)
(Ca sĩ Hà Hoài Thu trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

Những năm gần đây, mỗi khi Quảng Ninh tổ chức một sự kiện lớn nào đó, cũng như nhiều ca sĩ người Quảng Ninh đã thành danh khác, ca sĩ Hà Hoài Thu luôn vui vẻ nhận lời tham gia. Chị bảo: “Được hát ngay tại quê mình, cho những người thân quen của mình nghe thì còn gì vui hơn!”.

- Những lần như vậy chắc là để lại nhiều cảm xúc trong tâm hồn chị?
Ca sĩ Hà Hoài Thu.
Ca sĩ Hà Hoài Thu.
+ Ồ, đúng thế! Thu đã đi hát rất nhiều nơi, tham dự rất nhiều lễ hội trong nước cũng có, ngoài nước cũng có. Nhưng mỗi khi về Quảng Ninh, có rất nhiều điểm đặc biệt, có rất nhiều kỷ niệm đẹp, vì đây là quê hương mình. Ở đây còn có những người thân thiết, bạn bè của mình, những người chứng kiến từng bước đi, từng bước trưởng thành của mình. Cảm xúc được hát cho họ nghe nó rất khác, rất đặc biệt, anh ạ. Hầu như khi nào tỉnh tổ chức một sự kiện văn hoá lớn, như Carnaval Hạ Long chẳng hạn, nếu được mời, Thu đều vui vẻ nhận lời ngay. Cũng có thể nói, tuy không còn quá háo hức như buổi diễn đầu tiên, nhưng vẫn còn nguyên vẹn cảm xúc được hát cho những người đã chứng kiến động viên mình, những người thân thuộc của mình...

- Tình yêu quê hương ấy sẽ được chị hiện thực hoá như thế nào trong thời gian tới?

+ Mỗi người một công một việc nên sẽ có những đóng góp riêng. Những người khác có thể sẽ đóng góp cho quê hương bằng cách này, cách khác; còn Thu, Thu sẽ góp sức mình cho quê hương bằng giọng hát…

- Như tôi được biết, chị đã thiết kế phòng ở của mình theo một không gian mang hương vị biển. Điều đó có phải xuất phát từ tình yêu Hạ Long của chị không?

+ Cảm ơn câu hỏi của anh. Thu muốn nói đến cái bể cá nước mặn trong ngôi nhà của mình. Thu rất thích biển, yêu biển, ao ước có một không gian biển. Nhưng Thu chưa có điều kiện để làm được điều đó. Mà đây lại là một món quà của một người bạn ở Quảng Ninh mang lên tặng Thu và một người bạn khác nữa. Thực ra mình chỉ “hưởng ké” thôi! (cười). Nhưng lại rất đúng ý mình. Anh cũng là người xa quê nhiều năm, anh biết rồi đấy, xa Quảng Ninh thì cái khiến ta nhớ nhất chính là hương vị biển rất đặc trưng. Sự có mặt của một bể cá nước mặn trong nhà là một điều thú vị của Thu đấy…

- Là một ca sĩ đã thành danh từ đất mỏ, chị có thể cho biết đánh giá của mình về các ca sĩ trẻ ở Quảng Ninh hiện nay?

+ Quảng Ninh luôn có sự xuất hiện của những ca sĩ tài năng. Nó như những lớp sóng, lớp sóng sau gối lên lớp sóng trước. Nhiều người đặt câu hỏi rằng, không biết ở Quảng Ninh người ta ăn gì, uống gì mà thấy ai cũng hát hay? Sao vào mỏ than, đi ra biển, hay ở đâu đó người Quảng Ninh đều hát hay (cười). Phong trào văn nghệ quần chúng thì “quá đỉnh” rồi… Riêng Thu, Thu rất quan tâm đến những ca sĩ cùng lứa với mình và trẻ hơn mình. Mỗi lần về phòng thu của nhạc sĩ Việt Hồng, mình đều hỏi xem gần đây có gương mặt nào có triển vọng không. Gần như lần nào câu trả lời mà Thu nhận được cũng là: -“Có chứ”. Thu nghĩ, vấn đề quan trọng là các bạn ấy có năng khiếu, có đủ đam mê và quyết tâm hay không thôi…

- Theo kinh nghiệm của chị, các ca sĩ trẻ nói chung, ca sĩ trẻ của Quảng Ninh nói riêng, một khi từ “ao nhà” ra “biển lớn” thì thường gặp những thuận lợi và khó khăn gì?

+ Có nhiều thuận lợi, trong đó có một thuận lợi, thực ra nói là thế mạnh thì đúng hơn, là các ca sĩ trẻ lên một môi trường được phát triển tài năng đều hồn nhiên trong giọng hát. Họ hát ít bị gò bó, hát như là bản năng nên cảm xúc dễ đi vào lòng người. Tuy nhiên, họ cũng đứng trước hàng loạt khó khăn, như dễ bị “khớp” trước những sân khấu lớn. Do thường xuyên hát đĩa nên khi hát với các ban nhạc thì dễ choáng ngợp lắm. Độ chuyên nghiệp đòi hỏi cao hơn nên các bạn đôi khi cứ phải “gồng mình” lên để hoà vào nhịp chuyển động chung. Tuy nhiên, ca sĩ nào chẳng phải trải qua giai đoạn như vậy, nên cũng không có gì phải đáng ngại lắm…

- “Trai Phòng, gái Quảng” là câu nói mà dân gian ám chỉ tính bản lĩnh (hay cũng có thể nói là sự ghê gớm…) của con gái Quảng Ninh. Câu nói ấy có vận vào chị không?

+ Ghê gớm hay không thì là do những người xung quanh đánh giá! Nhưng có một điều mình nhận thấy rất rõ qua nhóm bạn đồng hương cùng trang lứa đang sống ở Thủ đô là tụi mình đều có điểm giống nhau ở tính cách độc lập và… nói thế nào nhỉ, nếu quý mến thì bảo là rất cá tính; còn nếu không ưa thì bảo là đanh đá, là ghê gớm… Phải chăng “gái Quảng” trong câu anh vừa nói để chỉ cái “cá tính nổi trội” ấy của các cô gái Quảng Ninh chăng? Mà nói thế có lẽ cũng… không oan đâu nhỉ! (cười)…

- Hà Hoài Thu cái thời của “Sao mai điểm hẹn” và Hà Hoài Thu bây giờ có gì khác biệt?

+ Già hơn mấy tuổi này. Bản lĩnh hơn, lì hơn rất nhiều nữa này. Đã có những album riêng. Đến bây giờ Thu đã trưởng thành rất nhiều về nghề. Trước kia, gặp sóng gió thị phi là suy nghĩ nhiều, thậm chí là chỉ biết tấm tức khóc… Nhưng bây giờ thì vững vàng hơn lên rất nhiều. Nói chung, thời gian qua đi, con người ta cũng phải khác đi chứ! Nhưng có một thứ với Thu không bao giờ khác cả; ấy là tình yêu nghệ thuật. Thu vẫn vậy, vẫn giữ nguyên vẹn ngọn lửa đam mê theo đuổi con đường ca nhạc…

- Dự định âm nhạc trong thời gian tới của chị là gì?

+ Sắp tới Thu sẽ làm một album. Cũng không hoàn toàn là nhạc nhẹ, nó sẽ rất khác… Nhưng tất cả vẫn đang ấp ủ, khó có thể nói cụ thể như thế nào được. Thôi thì cứ để “Em có một bí mật” đã nhé! (cười).  (“Em có một bí mật” là tên một album của Hà Hoài Thu - PV).

- Xin được hỏi Hà Hoài Thu thêm một câu nữa. Gần đây thấy bạn thường rất hay hát và hát rất truyền cảm nhiều ca khúc về tình yêu (như “Tình yêu chưa đến”, “Tình yêu như mùa thu hãy cho trời trong xanh” v.v..). Chắc có điều gì đó mới mẻ…?

+ Cuộc sống công việc đã quá nhiều áp lực rồi. Thu nghĩ, cái mà mình nên chiều mình đầu tiên đó chính là tình yêu. Khi mình đã thương một người, rung động trước một người thì hãy để cho nó tự nhiên. Không nên quan niệm nó là cái gì cả, hãy để cho nó được sống đúng là nó… Bạn trai của Thu không phải là người trong nghề nhưng cực kỳ yêu nghệ thuật. Đó lại là cái dung hoà cho nhau. Anh cũng biết rồi, người ta nói, đôi dép cùng hướng thì dép không đi chung được. Nó phải là một chiếc trái, một chiếc phải, thế mới chuẩn. Thú vui, hạnh phúc với tình cảm của mình bây giờ...

- Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện thú vị này!
Phạm Học
Ca sĩ Hà Hoài Thu, sinh năm 1986 tại Hạ Long, trong một gia đình không có ai làm nghệ thuật; từng là diễn viên Trung tâm Thực hành và biểu diễn của Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long; sinh viên Đại học Văn hoá nghệ thuật Quân đội. Ngày còn nhỏ, cô bé Hà Hoài Thu khá nhút nhát, thường nhìn chúng bạn trên sàn diễn với con mắt ngưỡng mộ. Vì thế năm 18 tuổi, Thu thi vào Hệ Trung cấp Sư phạm Âm nhạc (Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long). Tốt nghiệp ra trường, Hà Hoài Thu được giữ lại công tác ở Trung  tâm Thực hành và biểu diễn. Với những cố gắng không mệt mỏi của mình, Hà Hoài Thu đã đạt nhiều giải thưởng âm nhạc trong các cuộc thi: Giải Nhất dòng nhạc nhẹ Sao mai 2009; Giải triển vọng Sao mai điểm hẹn 2010. Hà Hoài Thu đã ra mắt Album đầu tay “Em có một bí mật” cùng sự hợp tác của nhạc sĩ Hải Phong. Đây là câu chuyện về những cung bậc tình yêu của một cô gái trẻ đối diện với những khoảng lặng trên con đường đi tìm lời giải cho những câu hỏi vốn không có lời đáp...

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương: “Giọng hát và phong cách biểu diễn của tôi chính là của... người Quảng Ninh!”

Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương: “Giọng hát và phong cách biểu diễn của tôi chính là của... người Quảng Ninh!”

Bao Quang Ninh Cập nhật lúc 05:42, Chủ Nhật, 02/06/2013 (GMT+7)
Hoạt động chủ yếu trên các sân khấu âm nhạc phía Nam, ca sĩ Hồ Quỳnh Hương ít có điều kiện để thường xuyên trở về quê hương Hạ Long. Thế nhưng, cứ mỗi khi tỉnh nhà có sự kiện lớn, cô ca sĩ đất mỏ này lại trở về để mang lời ca tiếng hát của mình phục vụ bà con quê hương. Trong dịp Carnaval Hạ Long 2013 cũng vậy... Trò chuyện với tôi, chị nói:

+ Hương ở xa nên rất nhớ quê hương, mỗi lần được về Hạ Long, Hương lại có dịp gặp lại người thân, bạn bè, đồng nghiệp, gặp lại các cô chú mà trước đây Hương đã được họ dìu dắt từ phong trào văn hoá văn nghệ của tỉnh nhà. Được về hát cho người dân Quảng Ninh nói chung và Hạ Long nói riêng cũng là niềm vinh dự của Hương. Đặc biệt, được tham gia chương trình Carnaval Hạ Long, một hoạt động nghệ thuật lớn của tỉnh nhà, cũng là cơ hội để Hương giới thiệu với bạn bè về quê hương của mình...
Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương hát tại sân khấu Hạ Long By night. Ảnh: P.h
Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương hát tại sân khấu Hạ Long By night. Ảnh: P.h
- Ngoài “hát cho bà con tôi nghe” trong các sự kiện lớn của quê nhà, chị còn có dự định gì để thể hiện tình yêu quê hương của mình nữa không trong thời gian tới?

+ Hương sẽ biên tập một album, với những bài hát về Hạ Long và cùng chị gái mình là ca sĩ Hồ Quỳnh Tâm thu âm để dành tặng cho quê hương. Sắp tới, Hương sẽ ra mắt album mới đó và có kế hoạch biểu diễn, giới thiệu album tại Quảng Ninh…

- Quảng Ninh là vùng đất đã sinh ra nhiều ngôi sao ca nhạc. Là một ca sĩ đã thành danh từ đất mỏ Quảng Ninh, chị có thể cho biết đánh giá của mình về các tài năng ca nhạc trẻ hiện nay cũng như phong trào ca hát của tỉnh nhà?

+ Đúng như anh nói. Quảng Ninh là một trong những cái nôi âm nhạc của cả nước, đã có rất nhiều các ca sĩ nổi tiếng xuất thân từ đây. Qua theo dõi trên các phương tiện thông tin, Hương được biết phong trào ca hát của tỉnh nhà vẫn phát triển tốt, hàng năm các cuộc thi văn nghệ quần chúng, thi Tiếng hát phát thanh truyền hình… đều xuất hiện các gương mặt mới đầy tài năng. Tuy nhiên, để tiến xa hơn nữa trong nghệ thuật thì các bạn trẻ cần phải có lòng yêu nghề, sự quyết tâm và đầu tư để có sản phẩm âm nhạc của riêng mình…

- Được biết hồi bé chị là một cô bé rất tinh nghịch... Phải chăng tính cách ấy đã tạo nên phong cách biểu diễn bốc lửa, những vũ đạo “náo loạn” sân khấu, giọng hát “cháy hết mình” của chị sau này?

+ Ngày bé, đúng là Hương rất “quậy”. Mà anh thấy đấy, con gái đất mỏ thường như thế mà! (cười). Sau này, có nhiều người hỏi Hương là tại sao giọng hát của người Quảng Ninh khoẻ và cao đến vậy? Hương thường trả lời là do người Quảng Ninh quê của Hương sống gần biển nên “ăn sóng nói gió”; lại uống nước từ khe núi có than đá nên tiếng hát khoẻ và cao... Đùa thế thôi, nhưng Hương nghĩ, có một sự thật là phong cách biểu diễn của Hương rất là “Quảng Ninh”, mạnh mẽ và cháy hết mình đúng như anh nhận xét…

- Còn nhớ có lần chị nói, chị và chị gái mình có nét tính cách trái ngược nhau. Chị có thể chia sẻ vài kỷ niệm của mình về người chị gái, ca sĩ Hồ Quỳnh Tâm?

+ Chị Tâm dịu dàng, điềm đạm bao nhiêu thì Hương “nổi loạn” bấy nhiêu. Và đương nhiên bao giờ chị cũng nhường em. Từ bé chị Tâm đã phải nhiều lần bị đánh đòn oan vì em gái, cho đến bây giờ chị vẫn bị Hương “bắt nạt”, mặc dù chị đã có gia đình riêng. Nói vậy thôi, chứ trong cuộc sống hai chị em rất hiểu nhau và Hương cũng chính là người truyền cho chị Tâm sự mạnh mẽ và quyết đoán, còn chị Tâm thì giúp Hương “dịu dàng” hơn…

- Cảm ơn và xin chúc chị có nhiều niềm vui trong cuộc sống và trong ca nhạc!
Phạm Học

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Ca sĩ Ngọc Anh: “Thật hạnh phúc khi được hát cho người quê mình nghe...”

Ca sĩ Ngọc Anh: “Thật hạnh phúc khi được hát cho người quê mình nghe...”

Báo Quảng Ninh cập nhật lúc 10:01, Chủ Nhật, 09/06/2013 (GMT+7)
Sở hữu một giọng ca ngọt ngào, đầy cá tính, nhất là với kỹ thuật rung ngân độc đáo, ca sĩ Ngọc Anh luôn gây được ấn tượng với khán giả bằng những ca khúc Pop Ballad nhẹ nhàng...

Trò chuyện với chị trong một lần chị về biểu diễn tại TP Hạ Long, nơi chị sinh ra và lớn lên, tôi tò mò hỏi:

- Dường như khi hát ở quê nhà, cảm xúc của chị đằm hơn, sâu lắng hơn thì phải…?

+ Bạn cảm thấy vậy thật sao? Đã đành là một ca sĩ khi lên sân khấu thì phải hết mình, nhưng đúng là mỗi khi được về với Hạ Long, hát cho người quê mình nghe, nhất là trong các dịp lễ hội, mình thấy xao xuyến hơn, cảm xúc dâng trào hơn... Mình đi diễn rất nhiều nơi rồi, kể cả ở nước ngoài, nhưng lần nào về Quảng Ninh hát, mình cũng có cảm giác gần gũi, thân thương. Mình đã trải qua những lúc khó khăn nhất của cuộc sống, những thăng trầm trên con đường nghệ thuật và chính những người thân, bạn bè ở quê hương Quảng Ninh đã ủng hộ, động viên mình rất nhiều. Vậy nên khi biểu diễn ở Quảng Ninh, mình luôn nghĩ đây là cơ hội để mình bày tỏ sự tri ân mọi người, tri ân quê hương mình…
Ca sĩ Ngọc Anh. Ảnh: P.H
Ca sĩ Ngọc Anh. Ảnh: P.H
- Với cảm xúc về quê hương như vậy, chị có dự định gì không trong tương lai?

+ Theo mình, chuyện cống hiến cho nghệ thuật là cả đời; nhiều khi “nói trước bước không qua”… Nếu có dự định thì cũng phải thực hiện chầm chậm, từ từ, chứ không thể vội vàng trong ngày một ngày hai được. Trong các chương trình, sự kiện văn hoá quan trọng của tỉnh, khi được đề nghị, Ngọc Anh đều cố gắng về biểu diễn hết mình. Ngoài ra, mình cũng đã làm một số việc cho Hạ Long như thực hiện một số liveshow nhỏ chẳng hạn. Và sắp tới có lẽ, mấy anh chị em ca sĩ Quảng Ninh bọn mình sẽ tập trung lại, làm một chương trình gì đó cho Quảng Ninh trong một dịp nào đó. Dự định thì có trong suy nghĩ rồi nhưng nó sẽ diễn ra vào thời điểm nào thì cần phải sắp xếp…

- Là một ca sĩ trưởng thành từ Quảng Ninh nay đã thành danh, nếu hỏi: chị đánh giá về các tài năng âm nhạc trẻ ở Quảng Ninh hiện nay như thế nào, chị sẽ nói gì?

+ Các bạn ca sĩ trẻ ở Quảng Ninh hiện nay cũng có nhiều người rất giỏi, rất có năng khiếu âm nhạc. Tuy nhiên, mấy năm gần đây mình có cảm giác các bạn ấy thiếu đi một chút đam mê, thiếu một chút nhiệt huyết chăng? Và vì thế mặc dù có nhiều tài năng, nhưng ít thấy có ai nổi bật như lớp ca sĩ thế hệ đi trước. Chính vì thế trong tháng 7 này Ngọc Anh sẽ mở Trung tâm đào tạo thanh nhạc tại Hạ Long để phát hiện, tìm kiếm tài năng trẻ cho Quảng Ninh. Ngọc Anh hy vọng sẽ  đóng góp phần công sức nhỏ bé của mình cho sự phát triển của các tài năng ca nhạc ở Vùng mỏ …

- Theo tôi biết, gần đây chị còn “lấn sân” sang cả lĩnh vực điện ảnh, truyền hình... Chị thấy những lĩnh vực ấy nó có phù hợp với mình không?

+ Đối với Ngọc Anh, lĩnh vực nào mình cũng muốn thử sức. Thực ra, cái duyên đưa Ngọc Anh đến với việc đóng phim là do lời mời của đạo diễn Phạm Đông Hồng, cũng là một người con của Quảng Ninh. Và khi đọc kịch bản, Ngọc Anh thấy mình có thể làm được nên đã nhận lời đóng phim… Tất nhiên, cũng còn nhiều bỡ ngỡ, vì diễn không phải sở trường của mình. Nhưng khi đã làm gì thì mình cũng đều cố gắng hết sức, cố gắng để không phụ lòng mong mỏi của khán giả…

- Xin cảm ơn và chúc chị thành công hơn nữa trên con đường âm nhạc!
Phạm Học

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

phỏng vấn NSND Tường Vy


“Lời dạy về tình yêu thương của Bác Hồ luôn nhắc nhở tôi trên mỗi bước đường nghệ thuật”...

Báo Quảng Ninh Cập nhật lúc 04:40, Chủ Nhật, 19/05/2013 (GMT+7)
(NSND Tường Vy trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

Trong cuộc đời làm nghệ thuật của mình, NSND Tường Vy có may mắn nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và mới đây, vào dịp trung tuần tháng 5, trong cuộc trò chuyện thân tình với chúng tôi tại nhà riêng ở Hà Nội, bà tỏ ra rất xúc động khi nhắc đến những kỷ niệm của mình về Bác. Bà bảo: Mỗi khi gặp khó khăn trong cuộc sống, trong công việc v.v.. những kỷ niệm về Người lại giúp tôi có thêm nghị lực để vươn lên...

- Thưa bà, bà có thể cho biết lần đầu tiên được gặp Bác, cảm xúc của bà như thế nào?
NSND Tường Vy
NSND Tường Vy
+ Tôi còn nhớ rất rõ, ấy là vào một ngày tháng 8-1955, khi chúng tôi được chọn vào đội ngũ duyệt binh chuẩn bị cho ngày kỷ niệm Quốc khánh 2-9. Xe Bác bỗng dừng lại ngay trước mặt tôi. Bác khen: “Các cháu tập đều, đẹp lắm. Các cháu có khoẻ không?”. Tất cả chúng tôi đáp lời Bác, rồi đồng thanh chúc Bác mạnh khoẻ. Người mặc chiếc áo kaki màu ghi  giản dị, đầu đội mũ, râu bạc trắng... Lúc đó, trong mắt tôi, Người đẹp như ông tiên vậy. Được gặp Bác, chúng tôi vui sướng vô cùng…

- Tôi cũng được biết bà có may mắn là có nhiều lần được gặp Bác. Vậy sau lần ấy, bà còn được gặp Bác trong những hoàn cảnh như thế nào? Kỷ niệm nào với Bác mà bà còn nhớ mãi?

+ Giờ đây, trí nhớ của tôi cũng kém rồi (NSND Tường Vy đã gần 80 tuổi - TG), nhưng kỷ niệm nào về Bác thì với tôi cũng đều nhớ mãi cả, không bao giờ quên! Cũng là cơ duyên khiến tôi có may mắn được gặp Bác nhiều lần. Ấy là do đoàn Ca Múa quân đội, nơi tôi công tác, thường được chọn để phục vụ mỗi khi tiếp đón các đoàn khách cao cấp tại Phủ Chủ tịch. Mà lúc ấy, tôi lại là một trong những cô bé được Bác rất quan tâm. Còn nhớ, mỗi khi gọi tôi đến hát, Bác đều cười, nói vui: “-Chỉ “hát mộc” thôi nhé!”. Người không cần biểu diễn rầm rộ khoa trương tốn kém, mà luôn tiếp đón các đoàn nước ngoài với tình cảm chân thành, ấm áp. Tôi nhớ có một lần, Bác gọi vào bảo: “Sắp tới Bác tiếp hai chiến sĩ hoà bình Pháp là anh Henri Martin và chị Raymonde Dien. Bé có bài hát Pháp nào không?”. (Bác thường gọi tôi là “bé” một cách đầy trìu mến, gần gũi). Tôi thưa với Bác: “Cháu có thuộc bài “La Normandie”. Người lại bảo: “Thế thì tốt quá, Normandie là quê hương của anh Henri Martin đấy. Tuần sau, bé lên hát nhé”.

Rồi đến một lần Bác gọi tôi vào hát một bài hát dân ca Triều Tiên để đón nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành. Người nói đùa đồng chí Kim Nhật Thành: “-Anh nghe có rõ không đấy, hay là tưởng cô bé hát tiếng Việt?”. Lãnh tụ Triều Tiên cười sảng khoái, giơ hai ngón tay cái lên và khen: “-Rất tốt”. Sau lần đó, Bác động viên tôi cố gắng học thêm những bài dân ca nước ngoài nữa. Nghe lời Bác, tôi đã hát được vài chục bài dân ca các nước…

Với chúng tôi, Bác là người cha rất gần gũi. Còn nhớ một lần, chúng tôi đến gặp Bác. Bác hỏi chúng tôi hát được giọng gì. Chị Linh Nhâm đi cùng thưa với Bác là hát được giọng nữ trung; còn tôi thì thưa Bác là hát được giọng nữ cao. Bác bảo: “Bác có một ca sĩ rất hay. Giờ Bác cho các cháu nghe giọng ca nam trầm nhé!”. Thế là Bác đưa chúng tôi ra ao cá, rồi ra hiệu im lặng. Bỗng nhiên dưới ao vang lên tiếng kêu của một… chú ếch! Bác cười, bảo: “Ca sĩ của Bác đó. Đây là con ếch nặng tới 2 cân, do nhân dân Cuba tặng. Chiều nào nó cũng luyện thanh đấy!”. Nói chuyện với Bác, thú vị vô cùng. Trong tâm trí tôi, Bác Hồ chính là một bậc thầy về tâm lý…

- Là thế nào, thưa bà?

+ Hồi đang học Trường Âm nhạc quốc gia Việt Nam, tôi mang bầu cháu đầu lòng. Nhưng do buồn chuyện gia đình và lại đi hát quá nhiều nên chưa đủ tháng thì sinh nên cháu không nuôi được. Bác biết chuyện, Người gọi tôi đến. Người nói nhỏ nhẹ: “Thua keo này ta bày keo khác, cháu ạ!”. Rồi Bác đưa tay kéo mi mắt của tôi ra xem, y như thể bác sĩ khám bệnh. Bác bảo: “Cháu còn thiếu máu nhiều lắm, không được hát nữa. Đến khi khoẻ rồi hãy đi”. Nghe Bác nói, tôi bật khóc. Bác lại phải động viên bằng cách kể chuyện về tuổi thơ của Bác, về cảnh mẹ Bác mất, Bác bế em đi xin sữa, nhưng cuối cùng cũng không nuôi được... Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn nhớ những ngón tay Bác ân cần kéo mi mắt tôi. Cả mùi thuốc lá trên ngón tay của người nữa…
NSND Tường Vy (bên trái, hàng trên) chụp ảnh kỷ niệm với Bác Hồ.Ảnh: Tư liệu
NSND Tường Vy (bên trái, hàng trên) chụp ảnh kỷ niệm với Bác Hồ.Ảnh: Tư liệu
Với tôi, Bác gần gũi như một người cha. Có lần, sau khi biểu diễn xong, Bác ân cần hỏi thăm về quê hương, về mẹ, về đời sống... Bác hỏi tôi có về thăm mẹ không, rồi căn dặn phải biết tiết kiệm để dành mỗi tháng một ít tiền, sau này đất nước thống nhất thì còn có tiền mà mua gì về biếu mẹ. Lại một lần khác, Bác gọi tôi đến xem phim. Vừa thấy tôi, Bác khen: “Chà, Tường Vy diện nhỉ?”. Tôi cũng nhìn áo Bác, đùa lại: “Bác cũng... diện!”. Bác cười hiền từ, giải thích đó là cái áo người bạn ở Trung Quốc tặng. Bác dành rất nhiều tình thương yêu cho thanh thiếu nhi. Còn nhớ, một lần, Bác hỏi tôi đi học âm nhạc có giáo trình nào hay không thì nhớ giữ lại sau này dạy cho trẻ. Tình thương, lòng nhân ái đó của Bác đã tác động đến suy nghĩ và hành động của tôi…

- Có phải cũng vì thế mà sau này bà đã mở Trung tâm Nghệ thuật tình thương?

+ Đúng là như vậy. Tôi nhớ, có lần, Bác đã dặn: “-Mỗi người phải làm được một điều gì đó cho nhân dân, cho đất nước”. Luôn đau đáu với lời dạy ấy, một buổi sáng chủ nhật, đang lúc đàn hát tại nhà thì tôi thấy có rất nhiều em ở Làng trẻ SOS ngỏ ý xin được học đàn học hát. Thế là tôi cho chúng thử giọng và thấy nhiều em có năng khiếu. Chỉ trong một thời gian ngắn, lớp học của tôi đã có đến 50 học trò. Sau đó, nhờ nhạc sĩ Văn Cao giúp đỡ, Trung tâm Nghệ thuật Tình thương của tôi đã ra đời. Khi ấy, tôi vừa nghỉ hưu. Thấm thoắt đã 20 năm rồi… Đến giờ, tôi đã mở được 3 trung tâm ở Hà Nội, Đà Nẵng và Quảng Nam quê tôi. Chúng tôi đào tạo miễn phí cho các em bị khuyết tật, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tôi nghĩ, làm được việc này chắc ở đâu đây, Bác cũng vui lòng về đứa bé đã được Người thương quý, dạy bảo...

- Trong hoạt động của Trung tâm, nhất là với cơ chế thị trường như hiện nay, có gặp nhiều khó khăn lắm không, thưa bà?

+ Có chứ! Để mưu sinh bằng nghệ thuật, với người lành lặn đã khó, với người khuyết tật còn khó hơn nhiều. Với những em bị khiếm thị, nhiều lúc tôi phải dạy hát cho các em bằng cách đưa tay các em đặt tay lên môi, lên má mình để biết lúc hát cần mở miệng thế nào rồi theo đó mà bắt chước. Khó nữa là kiếm tiền trang trải chi phí. Tôi đã phải bán nhiều tài sản quý trong nhà; thậm chí có lần còn phải bán cả… chó nữa! (cười). Sau này, thỉnh thoảng lại đi xin tài trợ từ các nhà hảo tâm nên cũng đỡ. Những lúc khó khăn, tôi thường chắp tay khấn nguyện Bác Hồ phù hộ… Và như một sự kỳ diệu, Trung tâm của tôi cứ thế vượt qua khó khăn tưởng như không thể vượt qua được! Tôi quan niệm, Trung tâm của chúng tôi ra đời và tồn tại bằng tình yêu thương. Ở đâu có tình yêu thương thì ở đấy sẽ có sự bình yên thôi. Cái tâm và cách tổ chức của người quản lý sẽ là điều quyết định trong việc làm này. Tuy nhiên, có một sự thật mà tôi đang rất trăn trở là một số người lành lặn đang lợi dụng các em, lợi dụng uy tín của chúng tôi để thu lợi. Họ cũng tìm được một số em khuyết tật, nói là người của chỗ tôi, đưa vào đàn hát quyên góp từ thiện. Đàn hát biểu diễn thì chưa thấy đâu, chỉ thấy đưa thùng quyên góp ra xin tiền. Tiền đó họ thu, rồi chia cho các em được vài đồng. Tôi cũng xót xa lắm, nhưng chưa thể ngăn chặn hết được tình trạng này…

- Bà đánh giá như thế nào về khả năng của các bạn khuyết tật, mồ côi và trẻ em nghèo trong việc biểu diễn nghệ thuật?

+ Các em ấy đều rất chăm chỉ học tập. Riêng về nghị lực của các em thì tôi rất khâm phục. Một số em có năng khiếu về âm nhạc. Chỉ cần phát hiện và “vun xới” bằng tình thương yêu thì tôi nghĩ thế nào họ cũng thành danh. Các em đều gọi tôi là mẹ một cách ấm áp, yêu thương. Tôi nghĩ, mình thương yêu các em, động viên các em học tập và rèn luyện thì không bao giờ các em phụ công mình. Có 48 em đã được chúng tôi tạo nguồn và trở thành tài năng âm nhạc, như em Hà Chương, Hoàng Mạnh Cường, Đồng Quang Vinh, Hoài Phương, Giáng Son, cặp đôi khiêu vũ thể thao Khánh Thi và Chí Anh. Ở Quảng Ninh thì có em Sơn Lâm…

- Bà vừa nhắc đến Sơn Lâm ở Quảng Ninh, có phải đây là chàng trai tật nguyền với Quỹ từ thiện “Sơn Lâm và những người bạn” đã được rất nhiều người biết đến? Bà có thể chia sẻ đôi điều về chàng trai giàu nghị lực này?

+ Phải đấy! Tôi gặp Sơn Lâm ở Quảng Ngãi trong một hội diễn của Hội chữ thập đỏ. Khi ấy Sơn Lâm nghe tôi hát xong và bảo: “Mẹ ơi, mẹ cho con vào Trung tâm của mẹ đi!”. Tôi gật đầu đồng ý và nghe Sơn Lâm thử giọng. Cậu bé có chất giọng khá tốt, có triển vọng. Ban đầu cậu còn hát như nói, về sau tôi rèn cho rất nhiều trong việc xử lý tác phẩm âm nhạc. Xuất phát từ tình yêu thương và sự đồng điệu về tâm hồn mà hai mẹ con rất quý nhau. Có một thời gian, đi đâu tôi cũng “tha” đứa con Sơn Lâm đi diễn cùng. Nghe nói, sau này Lâm đã thành lập Quỹ từ thiện để mang những món quà đến tận tay những người cần giúp đỡ…

- Đã bao giờ Trung tâm của bà biểu diễn ở Quảng Ninh chưa? Bà thấy khán giả Quảng Ninh đón nhận như thế nào?

+ Chúng tôi cũng đã diễn ở Quảng Ninh một vài lần, nhưng đã lâu lắm rồi. Tôi nhớ có lần diễn ở Cung Văn hoá Lao động Việt - Nhật. Khán giả Quảng Ninh ủng hộ hết sức nhiệt tình. Đời diễn của tôi có được một sự may mắn là đi đến đâu khán giả cũng rất thương mình quý mình. Tôi lấy đó là nguồn động viên để mình bước tiếp…

- À, còn một câu hỏi nữa mà tôi rất muốn được bà chia sẻ! Ấy là thường mỗi khi biểu diễn, bà rất thích mặc quân phục màu xanh… Có phải màu áo “Anh bộ đội Cụ Hồ” gợi cho bà những kỷ niệm đẹp?  

+ Đúng như anh nói, tôi rất thích mặc quân phục khi biểu diễn, nhất là khi hát những bài hát ngợi ca người lính, ngợi ca Tổ quốc và nhân dân. Mà cũng phải thôi, tôi vốn là lính mà. Năm 16 tuổi, sau khi ngoại tôi mất vì mất máu không đưa đi cấp cứu kịp, má tôi xót xa quá nên đã động viên tôi đi học y tá để chữa bệnh cứu người. Thế là tôi đã xin nhập ngũ rồi trở thành y tá tại Viện Quân y 108. Năm 1956, tôi mới chuyển sang Đoàn ca múa Tổng Cục chính trị và bắt đầu được học thanh nhạc. Tôi hay hát về người lính, vừa là do nghề nghiệp, cũng vừa là tình cảm… Ngày tôi còn bé, các chú bộ đội về đóng quân trong nhà ngoại tôi rất đông. Các chú dạy cho tôi hát nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Phan Huỳnh Điểu v.v.. Từ đấy “Anh bộ đội Cụ Hồ” là “thần tượng” của tôi từ lúc nào không biết. Sau này, tôi lại có một mối tình đẹp với một chiến sĩ bộ đội là… anh phụ trách đội thiếu nhi của chúng tôi. Khi tôi vào bộ đội, anh ấy đi học Hải quân ở bên Trung Quốc. Nhớ anh, tôi đã sáng tác bài “Quê hương anh là biển cả”…

Ngày ấy, cũng như bao công dân khác từ chỗ “mê” hình ảnh “Anh bộ đội Cụ Hồ” mà tôi mong mỏi một lần được gặp Bác. Không ngờ sau này, đời tôi lại có cái hạnh phúc mà ít người có được là gặp Bác nhiều lần, hát cho Bác nghe cũng nhiều…

- Xin cảm ơn NSND Tường Vi về cuộc trò chuyện này! Chúc bà luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc!
Phạm Học

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

Liveshow ca nhạc của Hồ Quỳnh Hương tại Hạ Long by night


Liveshow ca nhạc của Hồ Quỳnh Hương tại Hạ Long by night

Báo Quảng Ninh Cập nhật lúc 09:21, Thứ Hai, 29/04/2013 (GMT+7)
Tối 28-4, khán giả Quảng Ninh đã có buổi tối thư giãn bằng âm nhạc thú vị trong liveshow ca nhạc của ca sĩ Hồ Quỳnh Hương tại sân khấu Hạ Long by night. Đây là một trong những chương trình hưởng ứng Carnaval Hạ Long 2013 và kỷ niệm 38 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4).
Giọng hát của Hồ Quỳnh Hương trở nên truyền cảm hơn khi hát tại quê hương
Giọng hát của Hồ Quỳnh Hương trở nên truyền cảm hơn khi hát tại quê hương
Khán giả đến chật khán phòng để nghe Hồ Quỳnh Hương hát
Khán giả đến chật khán phòng để nghe Hồ Quỳnh Hương hát.
Tại live show này, Hồ Quỳnh Hương đã hát nhiều ca khúc quen thuộc đã làm nên tên tuổi cô ca sĩ đất mỏ, “đóa hoa quỳnh” của vùng than Quảng Ninh. Phong cách biểu diễn bốc lửa, những vũ đạo “náo loạn” sân khấu, giọng hát của Hồ Quỳnh Hương được dịp “cháy hết mình” trong những ca khúc như: “Anh”, “Vũ điệu hoang dã”, v.v. rồi lại trở nên nồng nàn hơn khi hát những bài hát về Hạ Long. Đặc biệt, giọng hát của Hồ Quỳnh Hương còn không kém mùi mẫn khi chọn bài hát “Phút cuối” (một ca khúc nhạc xưa của Lam Phương) để tặng cho những khán giả yêu quý của mình.
Phạm Học

Phỏng vấn NSND Quang Thọ


“Được biểu diễn ở Carnaval Hạ Long vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm của tôi với quê hương...”

Báo Quảng Ninh Cập nhật lúc 05:52, Chủ Nhật, 05/05/2013 (GMT+7)
(NSND Quang Thọ trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

Từ 7 năm nay, Carnaval Hạ Long đã trở thành một dịp để những người con Quảng Ninh, dù là ở ngay trên mảnh đất quê nhà hay đang sống tại phương xa, thể hiện tình cảm của mình với quê hương. Đặc biệt, với những ca sĩ trưởng thành từ đất mỏ, được hát trong Carnaval Hạ Long là niềm vui của họ. Với Carnaval Hạ Long năm nay cũng không là ngoại lệ khi có tới 9 ca sĩ nổi tiếng, (như NSND Quang Thọ, ca sĩ Hồ Quỳnh Hương, ca sĩ Ngọc Anh v.v..) tham dự. Giọng hát của họ thực sự đã góp phần làm cho chương trình sống động, cuốn hút hơn lên rất nhiều... Điều đặc biệt nhất (cũng có thể nói như vậy), là cả 9 ca sĩ đều tự nguyện “phục vụ vô điều kiện” mà không đòi hỏi bất cứ một khoản thù lao nào...

PV Báo Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện thân mật với NSND Quang Thọ nhân sự kiện này...

- Chào NSND Quang Thọ! Xin ông cho biết cảm xúc của mình khi trở lại Quảng Ninh tham gia Carnaval Hạ Long lần này?
NSND Quang Thọ hát tại lễ khai mạc Carnaval Hạ Long 2013.
NSND Quang Thọ hát tại lễ khai mạc Carnaval Hạ Long 2013.
+ Tôi nghĩ, với tôi, có lẽ không phải là “trở lại” mà là “trở về” thì đúng hơn anh ạ. Về Hạ Long, về Quảng Ninh là tôi về với quê hương mình. Đây là lần thứ hai tôi tham gia biểu diễn nghệ thuật tại lễ hội Carnaval Hạ Long. Năm 2012, tôi là một trong những nghệ sĩ được lãnh đạo tỉnh chính thức mời về dự Carnaval Hạ Long. Còn trước đó, bản thân tôi cũng như một số ca sĩ, nghệ sĩ trưởng thành từ đất mỏ khác cũng muốn đóng góp công sức và tài năng cho Carnaval Hạ Long thành công hơn, nhưng không được mời. Điều này có nguyên nhân là do những năm ấy chương trình Carnaval Hạ Long do các đơn vị tổ chức sự kiện làm, người viết kịch bản tính toán theo ý của họ, nên có thể họ thấy không cần mời anh em chúng tôi chăng? Từ Carnaval Hạ Long năm 2012 trở đi, chương trình được lãnh đạo tỉnh chỉ đạo trực tiếp nên chúng tôi mới có điều kiện được về đây tham gia phục vụ lễ hội, bày tỏ tình cảm với quê hương. Với tôi, cũng như những ca sĩ, nghệ sĩ khác của Quảng Ninh, đây vừa là vinh dự, cũng vừa là trách nhiệm ...

- Không những thế, theo tôi được biết, để ủng hộ chủ trương xã hội hoá của tỉnh, ông và các anh, chị nghệ sĩ, ca sĩ khác còn từ chối, không nhận cát sê khi biểu diễn?

+ Đúng là như vậy. Người ta nói rằng, có đi làm ăn ở đâu thì làm, kiếm ở đâu thì kiếm, nhưng với quê hương thì tiền chưa hẳn là cái quan trọng nhất. Quê hương đã sinh thành, nuôi dưỡng mình, để cho mình có được ngày hôm nay; vậy nên tôi cho rằng, nghệ sĩ đích thực khi trở về quê hương thì họ vừa với danh nghĩa là nghệ sĩ, vừa với danh nghĩa là đứa con… Mà đã là “đứa con”, ai lại đòi tiền công… (cười). Chúng tôi về là để hoà vào dàn đồng ca lớn của lễ hội này. Về để cùng hoà vang khúc hát ngợi ca quê hương mình. Đấy là điều mà tôi nghĩ bất cứ một nghệ sĩ đích thực nào cũng cần phải có. Tất cả các ca sĩ chúng tôi đều không đưa ra bất cứ một điều kiện gì về mức độ thù lao khi biểu diễn. Trong khi đó, anh cũng biết rồi đấy, kinh tế thì khó khăn, cuộc sống của mỗi chúng ta đều khó khăn theo. Trong thời buổi này, ai chẳng muốn thu lợi cho mình. Nhưng đây không phải là một “cuộc làm ăn” mà là chuyện tình cảm…

- Và tình cảm ấy sẽ được thể hiện cụ thể trong Carnaval Hạ Long năm 2013, cũng như trong thời gian tới, như thế nào, thưa ông?

+ Tôi nghĩ tất cả đều muốn biểu hiện tình cảm của mình với Hạ Long. Mỗi người có một cách khác nhau. Là ca sĩ như chúng tôi, tình cảm ấy thể hiện tập trung nhất qua các bài hát ngợi ca quê hương. Chỉ tiếc một điều là chúng tôi không được biểu diễn nhiều do thời gian eo hẹp. Những gì mà chúng tôi thể hiện tại Carnaval Hạ Long lần này mới là phần nào tình cảm mà chúng tôi dành cho quê hương thôi. Điều đó sẽ còn tiếp tục được thể hiện trong tương lai nữa ...

- Carnaval Hạ Long 2013 đã kết thúc! Nhìn lại những gì đã diễn ra, ông có nhận xét gì không?

+ Theo tôi, điều cảm nhận trước hết là khâu tổ chức, lên kế hoạch đã tốt. Các tiết mục biểu diễn khá cô đọng, các ca sĩ đã chọn được những bài hát sở trường của mình… Và từ đó đã phát huy tương đối tốt khả năng cá nhân trong đêm diễn. Tất nhiên, đã là ca sĩ thì không phải lúc nào cũng chỉ hát bài hát ấy mà không phải là bài khác. Hát ở đâu, hát trong thời điểm nào chúng tôi cũng đều rất trân trọng. Thế nhưng, anh cũng thấy đó, ca sĩ ở Quảng Ninh nay đã thành danh khi trở về hát trên quê hương, trước bà con quê mình, vẫn hay hơn hát những nơi khác, thời điểm khác là bởi tình cảm của họ dành cho quê hương sâu nặng hơn… Tất cả còn tuỳ thuộc vào tổng đạo diễn nữa. Để cho mỗi ca sĩ thể hiện những gì tinh tuý nhất trong một thời gian cô đọng nhất cũng cần một sự tính toán kỹ. Như tôi chẳng hạn, không phải vô cớ tôi chọn bài hát trong đêm khai mạc là bài “Quảng Ninh - Đất lành chim đậu” của Lê Đăng Vệ, một nhạc sĩ là bạn cũ của tôi…

- Xin phép được hỏi thêm ông, rằng nhiều người vẫn nói Quảng Ninh là một điểm sáng trong hoạt động âm nhạc của cả nước. Là một ca sĩ đã thành danh từ Vùng mỏ, ông có thể cho biết đánh giá của mình về phong trào ca hát ở Quảng Ninh hiện nay?

+ Quảng Ninh, như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói, là một nước Việt Nam thu nhỏ. Ở đây có rất nhiều thứ mà thiên nhiên đã ban cho; có rất nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, trong đó có điều kiện phát triển âm nhạc. Quảng Ninh có một bề dày văn hoá, thể hiện sự đa dạng, sâu sắc về vùng miền. Kể từ thế kỷ trước đến nay, nhiều tài năng nghệ thuật, trong đó có các ca sĩ, đã được sinh ra và phát triển tốt từ Quảng Ninh. Có thể kể ra ở đây như Trần Khánh, Dương Phú, Lê Dung và sau này là những Hồ Quỳnh Hương, Ngọc Anh, Tuấn Anh, Hoàng Thái, Hà Hoài Thu, Hoàng Tùng v.v.. Và một điều quý giá, đáng trân trọng hơn nữa, là người Quảng Ninh luôn biết cách giữ gìn và phát huy truyền thống ấy. Tôi nghĩ là đến tận bây giờ và mai sau cũng sẽ vẫn như vậy, các giọng ca tốt, có triển vọng đều được xây dựng từ nền tảng vững chắc là các phong trào văn hoá - văn nghệ quần chúng, nghiệp dư. Dưới sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, các đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh thì phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng đã được nuôi dưỡng và phát triển rất tốt. Thêm nữa, nhân dân Quảng Ninh cũng rất yêu ca hát, yêu nghệ thuật. Vì yêu, vì say mê nên tự họ sẽ tìm đến và rèn luyện thôi. Cũng vì yêu âm nhạc, yêu ca hát nên tỉnh và các địa phương trong tỉnh đã quan tâm hơn, đầu tư nhiều hơn. Đặc biệt nhất phải kể đến phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng trong ngành Than. Đây là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước, thường xuyên quan tâm đầu tư cho các hoạt động văn hoá văn nghệ. Do vậy, nhiều ca sĩ, nhạc sĩ tài năng âm nhạc được phát hiện và bồi dưỡng từ các công ty, xí nghiệp Than nói riêng, ở Quảng Ninh nói chung, âu cũng là điều dễ hiểu…

- Xin cảm ơn NSND Quang Thọ về cuộc trò chuyện này!
Phạm Học thực hiện

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Cấn Đình Loan: “Với tôi, phong cảnh vùng cao là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn...”

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Cấn Đình Loan: “Với tôi, phong cảnh vùng cao là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn...”

Báo Quảng Ninh Cập nhật lúc 05:10, Chủ Nhật, 17/03/2013 (GMT+7)
Cấn Đình Loan vốn là một nhà giáo gắn bó nhiều năm với vùng cao Quảng Ninh. Lúc còn dạy học, ngoài những giờ đứng lớp, anh thường tranh thủ cầm máy ghi lại những khoảnh khắc đẹp trong cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Từ đó mà thành đam mê...
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Cấn Đình Loan
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Cấn Đình Loan
Trò chuyện với tôi, anh bảo:
+ Thực ra tôi mê nhiếp ảnh từ nhỏ. Và rồi khi về sống và dạy học ở Tiên Yên, phong cảnh núi rừng, con người vùng cao ở đây khiến tôi rất ấn tượng, muốn ghi lại bằng hình ảnh. Tôi có nhiều những bức ảnh về vùng đất này. Ngoài ra, mỗi khi rảnh rỗi, tôi lại tranh thủ lên những bản làng biên giới, từ Bình Liêu cho đến Móng Cái, để chụp ảnh…
- Có người cho rằng muốn có một bức ảnh “có hồn”, trước hết người nghệ sỹ phải bị đối tượng mình sắp chụp “hút hồn” vào ống kính… Anh nghĩ sao về điều này?
+ Điều đó là chính xác! Tôi không biết những bức ảnh vùng cao của mình có tạo được ấn tượng gì nhiều không với người xem, nhưng chắc chắn nó đều bắt đầu từ cảm xúc tận đáy lòng. Tôi muốn ghi lại tất cả những gì có thể ở vùng cao xa xôi kia, để ca ngợi bản chất và cái đẹp giản dị, hồn nhiên của đồng bào các dân tộc suốt đời gắn bó với nương rẫy, núi rừng. Tôi thương những tiếng khóc của em bé sau cơn bão làm tốc mái nhà; gánh củi nặng đè lên vai bé gái trên con đường đất đỏ; bếp lửa vùi vài củ sắn non. Tôi yêu vẻ đẹp của hoa rừng; những nếp nhà ấm êm chênh vênh trên sườn non; ánh mắt trong sáng và điệu cười xinh của người sơn nữ, hay vẻ phúc hậu của cụ già hạnh phúc bên con cháu v.v.. Tôi thấy trong nhịp điệu lao động hăng say, mỗi buổi hoàng hôn hay mỗi sớm mai dường như đều có cái đẹp rất riêng. Có thể, đó là cái đẹp như hơi thở của núi, của rừng…
- Nhưng cứ chụp mãi về một đề tài vùng cao, liệu có làm cho các tác phẩm trở nên nhàm chán, đơn điệu?
+ Sao lại đơn điệu? Tôi dám chắc suốt cả đời này ta cũng không thể khám phá hết được những tiềm ẩn của con người cuộc sống và thiên nhiên hùng vĩ vùng cao. Càng đi, tôi càng đắm đuối vào nó. Từ khi cầm máy quyết định chọn cho mình sáng tác ảnh vùng cao, ngày nào tôi cũng vào bản. Có khi cả ngày, có khi chỉ mươi phút và mỗi lần như vậy tôi lại thấy có thêm nhiều nét mới đến ngỡ ngàng. Rừng thay lá, hoa thay mùa, suối và đá cuộn theo dòng chảy, những đỉnh núi chân mây, ruộng bậc thang, lễ hội cuộc sống lao động và nét đẹp hoang sơ của người con gái vùng cao v.v.. Nhiều lắm, làm sao chụp hết được…
- Có lần anh nói, chụp ảnh chỉ như một thú chơi, để tặng bạn bè và để lưu giữ hình ảnh quê hương. Thế nhưng, chẳng phải anh đang dùng thương hiệu NSNA để mưu sinh là gì. Điều này có mâu thuẫn không nhỉ?
+ Thực ra chẳng có gì là mâu thuẫn cả! Người nghệ sĩ cũng cần phải mưu sinh chứ. Và còn gì tốt hơn là hãy mưu sinh bằng chính cái nghề mà anh yêu thích. Tôi là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nên mở hiệu ảnh Mai Loan để kiếm tiền chẳng phải là chính đáng sao? Nhưng nói thật, tôi cũng không phải là một người giỏi và ham hố kinh doanh lắm đâu. Khi có được khoản tiền vừa đủ cho cuộc sống là tôi tập trung đầu tư nhiều thời gian cho sự đam mê của mình. Và tôi còn nghĩ rằng, ảnh tôi tặng bạn bè cũng là để giới thiệu hình ảnh quê hương. Bằng cách đó tôi biết rằng bạn bè cũng rất yêu quê tôi. Trong tâm niệm, tôi muốn lưu giữ lại mãi cho sau này hình ảnh cuộc sống con người của quê hương hôm nay…
- Nhân kỷ niệm ngày truyền thống ngành nhiếp ảnh, anh có thể chia sẻ những tâm sự, trăn trở của mình về nhiếp ảnh hôm nay?
+ Trăn trở thì nhiều lắm. Chỉ sợ không làm hết được thôi. Cái tôi muốn làm nhất lúc này là ghi lại đầy đủ hình ảnh của quê hương, nhưng chỉ với riêng mình thì không thể kham nổi. Tôi muốn có thêm lực lượng sáng tác trẻ, nhiệt huyết và đam mê. Nhưng anh cũng biết rồi đấy, không dễ gì thoát ra được vòng xoáy của cuộc mưu sinh hàng ngày. Chỉ chơi ảnh nghệ thuật thôi mà sống được thì khó lắm. Nhiếp ảnh dịch vụ và nhiếp ảnh nghệ thuật khác nhau nhiều. Chơi ảnh nghệ thuật thật khó, không dễ gì ai cũng theo được…
- Xin cảm ơn anh đã dành thời gian trò chuyện…
PHẠM HỌC thực hiện

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Nhà văn Khuất Quang Thụy: “Văn học Quảng Ninh đang rất có triển vọng”

Nhà văn Khuất Quang Thụy: “Văn học Quảng Ninh đang rất có triển vọng”

Cập nhật lúc 08:50, Chủ Nhật, 14/04/2013 (GMT+7)
Là Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Tổng biên tập Báo Văn nghệ, nhà văn Khuất Quang Thụy luôn bận rộn với công việc quản lý toà soạn. Thế nhưng sức viết của ông vẫn rất khoẻ, ông liên tục cho ra mắt bạn đọc những tiểu thuyết ấn tượng về đề tài chiến tranh như: “Trong cơn gió lốc”, “Lửa và thép”, “Những bức tường lửa”, “Đối chiến” v.v..

Mới đây nhân dịp ông về dự Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 26 tổ chức tại huyện đảo Cô Tô, tôi đã có may mắn được trò chuyện cùng ông...

- Thưa nhà văn Khuất Quang Thụy! Đây là lần thứ mấy ông đến với Cô Tô, cảm xúc của ông như thế nào?

+ Đây là lần đầu tiên tôi đến với Cô Tô. Và còn hạnh phúc hơn, may mắn hơn là tôi đến trong tâm thế của một nhà văn đi tham gia Ngày thơ Quảng Ninh. Trong cảm nhận của tôi, Cô Tô rất đẹp, trù phú. Tôi tin là Cô Tô sẽ có một tương lai xán lạn…

- Ông đánh giá thế nào về Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 26?

+ Rõ ràng như anh đã thấy rồi đấy, Ngày thơ Quảng Ninh lần này đã rất thành công bởi vì nhiều ý nghĩa, như đã nối dài và mở rộng không gian thi ca của Ngày thơ Việt Nam lần 11; tiếp tục chủ đề “Tuổi trẻ với Tổ quốc” mà cụ thể nhất là với biên cương. Và còn đặc biệt ý nghĩa hơn nữa khi được tổ chức ở đảo ngọc Cô Tô, nơi Bác Hồ đã từng đến thăm và cho đặt tượng của mình. Ngày thơ Quảng Ninh có bản sắc rất riêng. Vì thế nó đã quy tụ được một lực lượng đông đảo văn nghệ sĩ sáng tác VHNT trong tỉnh về với Cô Tô...

- Là một nhà văn, lại kiêm cả làm công tác quản lý văn học nghệ thuật, ông đánh giá thế nào về lực lượng sáng tác văn học của Quảng Ninh?   

+ Đội ngũ các nhà văn, nhà thơ Quảng Ninh rất mạnh trong đội hình sáng tác chung của Văn học Việt Nam. Ở đây có những tên tuổi rất lớn, như Nhà văn sáng tác cho công nhân Võ Huy Tâm; sau này là Nhà thơ Trần Nhuận Minh, Nhà văn Lý Biên Cương, Nhà văn Dương Hướng v.v.. Họ không chỉ là những nhà văn lớn của văn học Quảng Ninh mà còn là những nhà văn có tên tuổi trong văn học nước nhà. Lực lượng trẻ của Văn học Quảng Ninh cũng đang phát triển mạnh. Do đó, đội ngũ các nhà văn, nhà thơ Quảng Ninh rồi đây sẽ rất đa dạng. Về đề tài mà họ khai thác, bên cạnh những đề tài quen thuộc là người công nhân, còn những đề tài biên giới hải đảo, biên cương, quá trình xây dựng đô thị hoá của các đô thị ven biển, mở rộng kinh tế du lịch v.v.. Có thể nói chắc chắn rằng, Văn học Quảng Ninh sẽ rất có triển vọng. Tôi tin tưởng vào sự phát triển của các tác giả ấy, nhất là lực lượng trẻ…

- Thường xuyên đọc, biên tập bài của tác giả Quảng Ninh gửi đăng Báo Văn Nghệ, ông thấy các tác phẩm của họ thế nào?  

+ Rất nhiều tác giả Quảng Ninh, nhất là các tác giả thơ, đã đăng tác phẩm trên báo Văn Nghệ. Như anh biết rồi đấy, Báo Văn Nghệ là “cửa sổ chính” của nền Văn học Việt Nam đương đại. Báo Văn Nghệ có độc giả ngày càng rộng và có chọn lọc. Nó đòi hỏi nội dung tư tưởng cũng như chất lượng nghệ thuật rất cao. Tất cả các tác phẩm đã được đăng thì được đông đảo bạn đọc trong cả nước biết đến. Và nó cũng được mặc nhiên thừa nhận một phần nào đó về chất lượng nghệ thuật. Do vậy, chất lượng các tác phẩm của các tác giả Quảng Ninh đăng tải trên Báo Văn Nghệ đều thuộc loại khá, đáng đọc...

- Vậy theo ông, các tác giả Quảng Ninh hôm nay có thể tham gia diễn đàn này như thế nào?  

+ Có nhiều tác giả mong muốn được xuất hiện trên Báo Văn Nghệ. Đấy là một điều đáng được ghi nhận, trân trọng. Đây là diễn đàn luôn chào đón các tác giả ở Quảng Ninh. Và thực tế thì nhiều người đã xuất hiện trên báo Văn Nghệ đó thôi. Có tác giả thơ còn xuất hiện liên tục nữa. Ngoài tờ Văn Nghệ còn có tờ phụ trương Văn Nghệ Trẻ nữa. Nó ưu tiên những vấn đề về giới trẻ, về giáo dục. Nó chỉ khác với tờ Văn Nghệ ở đề tài và đối tượng thôi, chứ về chất lượng thì không hề phân biệt. Đây cũng là diễn đàn để các cây bút trẻ Quảng Ninh có cơ hội thử sức mình…

- Xin hỏi thêm ông một câu: Sau chuyến đi này, ông có dự định sáng tác gì về đề tài biển đảo, mà cụ thể hơn nữa là viết về Cô Tô?  

+ Tôi là nhà văn, thường viết tiểu thuyết. Vừa qua, tôi đã hoàn thành cuốn “Đối chiến”. Viết tiểu thuyết phải đầu tư nhiều thời gian và vốn sống hơn. Riêng đề tài biển đảo, có lẽ trong thời gian tới tôi sẽ đầu tư viết truyện ngắn, hoặc ký…

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
Phạm Học

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

Phỏng vấn nhà thơ Trần Nhuận Minh

Thơ tôi là thơ tình “đích thực”

PHẠM HỌC thực hiện | 08/04/2013 05:44 (GMT + 7)
 - Nhà thơ Trần Nhuận Minh sinh năm 1944, quê làng Điền Trì, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, từ năm 1962 sống và viết tại khu mỏ Hồng Quảng, sau này là tỉnh Quảng Ninh. Ông nguyên là ủy viên hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam, chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh. Ông đã xuất bản 17 tập thơ, 3 tập truyện và 1 tập Đối thoại văn chương chung với nhà văn Canada Nguyễn Đức Tùng. Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.

* Được biết ông đã có bốn tập thơ dành cho tuổi trẻ như Đấy là tình yêu, Âm điệu một vùng đất, Thành phố bên này sông, Thơ với tuổi thơ và hai tiểu thuyết viết cho thiếu nhi. Khi viết cho giới trẻ, ông muốn nhắn nhủ điều gì?     
- Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Tôi không có ý thức viết cho giới trẻ hay không trẻ. Nhưng tôi tin không chỉ mấy tác phẩm anh kể mà toàn bộ tác phẩm của tôi, tôi đều viết cho các bạn trẻ, tức là viết cho một thời của tôi, một phần đời của tôi. Cái lung linh của một thời ấy đã làm nên giá trị của đời tôi bây giờ, của thơ tôi bây giờ. Các bạn trẻ hiện nay đã thoát ra khỏi cuộc chiến tranh, đó là hồng phúc của một dân tộc. Ở thời tôi, chúng ta mới nói đến sự hi sinh xương máu mà chưa nói được bao nhiêu sự hi sinh rất lớn khác, đó là hi sinh toàn bộ cái riêng của mình để nhập cuộc. Hi sinh sự học, hi sinh sự yêu để cầm súng ra trận hoặc vào trận ở các vị trí khác nhau. Trong trường ca Một trăm bước cuối cùng, tôi có viết: “Một thế hệ đã vào đời như thế đấy/ Có thể nói cái gì cũng dở dang/ Chỉ  tuổi thanh xuân là vẹn nguyên / Hiến dâng cho Tổ quốc”. Các bạn có được tuổi thanh xuân vẹn nguyên để học, để yêu, để sống như mình muốn, để dâng cho chính mình. Cái đó ở thời tôi, tôi và nhiều bạn tôi không có. Ngay nhà thơ Trần Đăng Khoa, làm thơ từ tuổi trẻ con, cũng có lần nói rằng: “Tôi không có thời thiếu nhi” vì phải tự nguyện làm ông cụ non. Vậy các bạn trẻ đừng phung phí vào những trò vô bổ, vì thời của các bạn đẹp đẽ và hạnh phúc đến mức thế hệ tôi có nằm mơ cũng không thấy, chỉ đến với các bạn có một lần.
* Bài Thơ tình ngày không em có phải ông viết về mối tình đầu của mình? Mối tình mà nhà thơ Trần Đăng Khoa đã ứng khẩu đùa ông: “Thề không lấy vợ suốt đời / Hôm nay bỗng thấy một trời nhớ nhung”. Ông có kỷ niệm gì khi viết bài thơ ấy?              
- Vâng, đúng thế! Dạo đó, khi đến với người yêu, tôi phải báo cáo với chi đoàn, nói chuyện với nhau phải có người thứ ba cùng nghe. Đêm phải mở toang các cửa, thắp đến hai ngọn đèn to, ngồi cách nhau một cái bàn. Các bạn trẻ bây giờ nghe thế chắc khó tin là thực. Có tội tham ô (ăn cắp) chỉ bị khiển trách, phê bình là nặng rồi, còn “quan hệ nam nữ bất chính”, dù chỉ hai người ngồi “bí mật” với nhau trong đêm,  đã bị kiểm điểm rồi. Không ít trường hợp bị đuổi việc, chưa về đến quê thì thông báo đã về đến quê rồi... Đến nhà thơ Xuân Diệu làm thơ tình, với cái sự “cầm tay” nhau thôi cũng phải theo đúng “quy chuẩn”: “Một tuần công việc tạm xong/ Cầm tay chủ nhật hòa trong phố người”.  Tôi đã bị buộc phải dự những cuộc kiểm điểm thâu đêm suốt sáng một đôi tình nhân, cứ bắt họ phải thuật lại cụ thể cái sự ấy nó đã diễn ra, rồi lại diễn ra làm sao, theo thứ tự thế nào, “khoan đã, để tôi hỏi thêm...” anh nào anh ấy, kể cả cấp trên về dự họp và chỉ đạo cuộc kiểm điểm, mặt mũi cũng cứ sáng quắc, râu ria đều động đậy. Tôi thấy vô cùng xấu hổ mà mặt mũi các quan xí xớn bừng bừng...
Sau này, người yêu tôi đã đi với người khác. Chính anh bạn trai có được người yêu tôi đã vui vẻ tiếp tôi, tiễn tôi ra tận đường ôtô. Sau này, anh là người chồng rất yêu vợ, tôn trọng vợ và luôn có quan hệ rất tốt với tôi. Có lẽ vì thế, mối tình mây nước ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Và tôi làm thơ vì sự ám ảnh ấy: “Nước mây, tình tuổi đôi mươi / Mà trôi nổi đến cuối đời, lạ chưa / Mỗi lần qua đoạn đường xưa / Chỉ mong một thoáng bất ngờ thấy em...”.
Thơ tôi không phải là thơ tán gái như số đông thơ tình bây giờ. Bài Thơ tình ngày không em cũng thế thôi. Ruột gan có nỗi niềm gì cứ thế nó trào ra, rất tự nhiên. Trong bài thơ Vào phút ấy thì em nên đến nhé... cũng thế, có đoạn: “Ta đã không nhau tất cả mọi ngày đêm / Vào phút ấy thì em nên có nhé  / Dù bận thế nào, em cũng nên lặng lẽ... / Đi theo anh... chỉ một đoạn đường thôi...”. Tôi đã đọc bài thơ này ở một trường cao đẳng sư phạm, nhiều người đã khóc.    
* Có người nói rằng có một người con gái đã bước vào cuộc đời ông, xuyên suốt trong con đường thơ của ông, hình ảnh nàng hoàn toàn có thật đằng sau những bài thơ tình. Điều này có đúng không, thưa ông? Ông tự cho mình là người viết những bài thơ tình “đích thực”. Tại sao gọi là “đích thực”?
- Đúng thế đấy. Ai cũng có một hai mối tình vắt vai rồi treo trước cửa phòng cưới. Tôi cũng vậy. Và mối tình ngoài tầm tay ấy cứ ám ảnh mình mãi, dù biết nếu lấy nàng chắc gì đã hơn người vợ hay cáu gắt của mình bây giờ. Tôi có câu thơ: “Vợ mình không cáu gắt / Ấy là điều rất hay” là tôi nói ngược lại để khuyên nhủ.
Tôi gọi thơ mình là thơ tình “đích thực” vì tôi không bịa ra nó như ông thầy tôi là nhà thơ Xuân Diệu, cũng không nhằm tán tỉnh, rủ rê ai... Nhà văn Nguyễn Đức Tùng trong Đối thoại văn chương bảo: “Thơ Trần Nhuận Minh là thơ tình đích thực chỉ vì nó hay. Thơ tán gái mà hay thì cũng là thơ tình đích thực”.
* Trần Nhuận Minh lúc viết những bài như “Thơ tình ngày không em” với Trần Nhuận Minh bây giờ có gì khác biệt?
- Không có gì khác. Tôi chỉ có một tình yêu duy nhất và trước sau không thay đổi đối với văn chương. Chỉ riêng tình yêu đối với văn chương thôi, tôi đã phải đối mặt với không ít giông bão, đã khổ lắm rồi...
* Ông đã làm nhiều thơ về mùa xuân. Cả tập Nhà thơ và hoa cỏ sau này ông đưa vào phần Mùa xuân trong tập tuyển Bốn mùa. Ông có điều gì tâm đắc từ đề tài này?
- Tôi luôn nghĩ, không phải viết về cái gì mà là viết như thế nào. Mùa xuân luôn mở ra cho tôi những hi vọng. Có một mùa xuân đã đến cùng với đất trời và có một mùa xuân khác nữa, rộng lớn hơn trong khát vọng của tôi, nghĩa là một bước phát triển mới, với những đột phá của đất nước cho tương lai, lúc nào tôi cũng chờ đợi: Có vẻ như mùa xuân sắp sang / Mưa bay lất phất phía đồi hoang / Cành khô nghe gió chừng thôi lạnh / Lá rụng ngàn thu chửa hết vàng.../ Ong bướm đâu rồi chưa thấy bay / Hoa còn ấp cánh dấu  trong cây / Không gian thơm thoảng mùi hương lạ / Của những mầm non dưới đất dày.../ Có vẻ Xuân rồi, Xuân hãy đến / Để ta chờ mãi, cớ làm sao... / Em đi khăn ấm che ngang mặt / Nào biết em xinh đến thế nào...  Tôi tin là mùa Xuân mong ước ấy sẽ đến, khi đất nước bước lên một tầm cao mới trong sự phát triển của công cuộc hội nhập toàn cầu, thịnh vượng và văn minh. 
* Xin cảm ơn nhà thơ.  
PHẠM HỌC thực hiện

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Nguyên sơ một ánh Trăng non- Lê Từ Hiển

1. Cho tuổi vầng trăng non
Câu lạc bộ Văn nghệ Trẻ Trường Đại học Quy Nhơn tổ chức “hội thảo bàn tròn” kỷ niệm 150 năm ngày sinh và 70 năm ngày mất của thiên tài toàn năng R.Tagore (1861 – 1941), tình cờ trùng vào ngày Quốc tế thiếu nhi 1.6. Ngẫu nhiên tình cờ như trăng đến trăng đi Trăng bao nhiêu tuổi trăng già…
Tagore là “nhà thơ của trí tuệ muôn màu” với Tư tưởng Thái Nhất(the Supreme One), là thực thể có cá tính(personality) sáng tạo(create) ra thế giới và con người để tự thể hiện bản sắc độc đáo của mình(self- realization). Tagore là nhà thơ tình nổi tiếng thế giới, là Heine của Ấn Độ. Một  tình yêu thiết tha con người giữa Thực và Mộng trong cõi trăm năm hữu hạn Tim tôi nhịp sóng ven bờ trần gian… mãi chảy một dòng thanh nhạc diễm tình. Tagore còn là nhà thơ của tuổi măng non như một V.Hugo của Ấn Độ. Trong bản chất vô cầu của thi ca vang lên từ Santiniketan(Xứ sở Bình yên) như tiếng hót chim non hồn nhiên đưa ta vào sâu tận đáy lòng vạn vật và vươn tới chín tầng thanh không Trong tiếng lá non tơ rung rinh xao xuyến – Nghe không trung dâng vũ điệu vô hình – Những giọt nắng lung linh màu sắc – Nghe âm vang nhịp thở trời xanh.
Người Việt Nam yêu thích cả 3 nội dung chính trong sáng tạo thơ ca Tagore. Thơ triết luận với niềm tin Tôn giáo thuộc về Con Người – Thơ tình yêu với những bản tình ca giàu cung bậc của hai giọng điệu hài hòa: trữ tình của tình nhân và triết lý của thi nhân( bài thơ tình số 28 SGK lớp 11 PTTH) – Thơ cho thế giới trẻ thơ hồn nhiên trong sáng đẹp như vầng Trăng non      (Mây và sóng – SGK lớp 9 PTCS)
    Tagore viết cho trẻ em trên cương vị người thầy, người cha, người anh, người bạn… trong hoàn cảnh hết sức đau buồn, người vợ và hai con ông lần lượt qua đời. Tập thơ Sisu( Trẻ thơ, 1909) gồm 40 bài không còn là câu chữ mà là máu thịt tình thương. Đó là một thế giới thơ ngây được kể bằng giọng trẻ thơ mà ngân vang bao điều về vũ trụ, nhân sinh, tình mẹ con muôn đời… dệt nên bởi những hình tượng tuyệt vời và tấm lòng nhân hậu bao la.
Khi tập thơ được Tagore chuyển dịch sang tiếng Anh, The Crescent Moon(Trăng non – 1915), tờ The Nation nhận xét tập thơ là cả “một trí tưởng tượng về tuổi thơ”, tờ The Golbe nhận thấy “một sự khám phá sâu sắc và tinh tế, huyền ảo hơn trong Thơ Dâng“. Thơ cho tuổi thơ trong bản chất đích thực là thơ với triết lý vô cầu, đẹp như vành Trăng non trinh nguyên. Hãy đến bên bờ trái đất, đưa tay lên trời, con sẽ được nhấc bổng lên mây… Hãy đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại, con sẽ được làn sóng nâng đi…
2. Buổi sơ khai… bé đến…
Vũ trụ với mặt trời, mặt trăng, vì sao và muôn vàn hành tinh khơi gợi trí tò mò của trẻ. Người lớn với định kiến khôn ngoan, tư duy logic xơ cứng về một thế giới bên ngoài thật và hiển nhiên, không thể tin trẻ em “dám” nhận thức khác mình. Trẻ, nhìn nhận thực tế một cách vừa cụ thể vừa trừu tượng và sử dụng tư duy hỗn hợp để hỏi và tự trả lời mà dựng lên thế giới riêng mình. Mẹ ơi có phải – mùa đông lạnh quá – mùa xuân trốn chạy…
Con người từ đâu ra và con người trọn một vòng đời đi về đâu… những câu hỏi đau đáu triết lý nhân sinh. Trẻ trong đời người là giai đoạn Khai sáng của hành trình nhân loại qua lăng kính tưởng tượng. Trẻ hay hỏi, và câu hỏi trẻ ngộ nghĩnh hồn nhiên Mẹ ơi con từ đâu đến vậy? – Mẹ đã nhặt con ở tận nơi nào? V.Hugo ngày trước trong Nghệ thuật làm ông từng ngạc nhiên khám phá ra vị trí của trẻ trong vũ trụ: Bé chính là bình minh và hồn ta là cánh đồng bát ngát – Cánh đồng đã ướp hương những loài hoa dịu mát vào trong hơi thở của em( Khi em bé hiện ra). Có nhiều lý do để trẻ em trở thành tặng vật có ý nghĩa nhất trên thế gian này. Giản dị thay, đối với Tagore, chỉ vì trẻ đến từ Tình yêu. Một tình yêu vô cầu bất tận, bắt nguồn từ tạo hóa – cuộc sống – trái tim Mẹ. 20 câu thơ trong Buổi sơ khai tạo nên một chuỗi so sánh độc đáo gợi hình, biểu cảm và giàu liên tưởng. Con là ánh bình minh, là mùi hương phảng phất, là ước mơ – kho tàng đặt vào đôi tay mẹ Khi, trong thời con gái, trái tim mẹ nở xòe như một đóa hoa – Con đã lượn quanh nó như một mùi hương phảng phất – Vẻ tươi mát nhẹ nhàng của con – nở trên chân tay non trẻ của mẹ – như một ánh hồng – trên trời cao – trước buổi bình minh. Thánh thiện mà gần gũi chân thật, như thiên thần mà rất đỗi bình dị đáng yêu, bé đến từ xứ sở thần tiên như một kẻ ăn mày để có thể xin Cả kho báu tình thương của mẹ( Cung cách của bé).
Thích được hỏi ý kiến và thích giải đáp. Đó không phải là logic đúng sai. Yêu thương thì có hiểu biết. Thơ Tagore thường sử dụng hình thức đối thoại hỏi – đáp nhưng thực chất là độc thoại nội tâm. Điều bí ẩn và huyền diệu nhất của cuộc đời: Con từ đâu đến… cứ thế tuôn tràn bộc lộ bản chất trẻ thơ, tình yêu thương. Thiên đường sinh ra ở trong con – Trong cánh tay của bà mẹ đất bụi này… Trẻ đến từ tình yêu, vì tình yêu, nên trẻ chính là “thánh nhân” để cứu vớt cuộc sống này – một cuộc sống đầy tranh giành, hoài nghi và tuyệt vọng( Em bé thiên thần).
3. Loại hàng hóa kỳ diệu
Ai chẳng một lần chơi trò thơ dại, gấp chiếc thuyền… rãnh nước trước sân nhà. Ôi rãnh nước hóa biển rộng sông dài. Hình ảnh thuyền giấy là biểu tượng cho khát vọng lên đàng, phiêu du những chân trời cao rộng, chứa đầy ắp những ước mơ thơ trẻ về một thế giới hòa bình, hòa hợp Trên thuyền, tôi chở những nụ hoa Siuli hái ở vườn nhà và mong rằng những nụ hoa nở buổi bình minh sẽ yên ổn cập bờ lúc đang đêm. Vòng tay nối kết ấy thật giản dị mà diệu kỳ ấm áp Những dòng sông nối với đôi tay – liền với biển khơi        (Trịnh Công Sơn). Và cứ thế, ra đi trên con thuyền mang tầm vóc vũ trụ Tôi thả thuyền giấy rồi nhìn lên trời thấy những áng mây nhỏ đang căng buồm trắng. Ấy là mắt nhìn minh triết – anh nhi Con sông là thuyền – Mây xa là buồm( Trịnh Công Sơn). Bốn mùa thay lá… Chèo dòng nước ngược con sông hoài niệm, đi về đâu… thuyền giấy tuổi thơ… Có những con thuyền chẳng bao giờ ra tới bể – đời. Vì rằng, người ta chở gì trên những con – thuyền – ước – mơ kia.
Cậu bé trong bài thơ Thuyền giấy cho thuyền chở đầy hàng hóa. Nhưng loại hàng hóa này thật đặc biệt, thật kỳ diệu. Người ta chỉ có thể bắt gặp ở thế giới trẻ thơ trong trẻo, đầy ắp tưởng tượng: Chiếc rổ đựng đầy những giấc mơ.
Trong thế giới người lớn, hàng hóa gắn với vật chất, trao đổi, bán mua và dĩ nhiên có lãi lời toan tính. Và qua mắt Trăng non, thấy thật buồn cười đến tội nghiệp… ngồi đếm mãi những đồng xu, mò ngọc trai, thu nhặt những thoi bạc nén vàng... Cậu bé cũng làm thủy thủ , nhưng sẽ lái con thuyền vượt bảy biển mười ba sông đến xứ sở thần tiên. Còn hàng hóa ư? Cậu bé tâm sự với mẹ: Mẹ ơi, mẹ có muốn hết đụn vàng này đến đụn vàng khác? – Kìa bên bờ suối vàng óng ánh, cánh đồng đầy lúa chín vàng – Và trong rừng, trên lối mòn râm mát, hoa chămpa vàng rụng rơi khắp mặt đất – Con sẽ lượm tất cả vào đầy trăm giỏ cho mẹ.
    Trong thế giới của những Trăng non, đầy ắp những loại hàng hóa diệu kỳ ấy. Chiếc vỏ sò, nhánh củi gãy, dăm chiếc lá… đầy ắp cái đẹp thuần khiết, vô tư của nhân loại. Không phải là những thứ hàng hóa mà người lớn chúng ta chở nặng – mà cũng thật khốn khó, thảm hại, đáng thương.
Trẻ thơ qua Thuyền giấy rất đỗi hồn nhiên, nhiều mơ ước, khát khao hướng vòm trời, đi tới mọi miền đất lạ với tình bạn và lòng yêu thương. Tôi viết to và đậm tên tôi và tên làng tôi trên mạn thuyền – Tôi hi vọng có người ở nơi nào xa lạ bắt được thuyền và biết rõ tôi là ai. Tưởng tượng phong phú kỳ diệu của trái tim thơ trẻ là yếu tố tạo nên chất thơ, sắc điệu thẩm mĩ của bài thơ Thuyền giấy. Và cứ thế, đưa Thuyền giấy ra khơi. Trong con thuyền đó, những giấc mơ nào chất đầy chiếc giỏ của cậu bé? Những hình ảnh tươi xinh, non tơ, hấp dẫn, thấm đẫm chất thơ: Những đóa Siuli mang hương sắc quê nhà, những áng mây nhỏ đang căng buồm trắng, dòng trôi miên man ánh sao khuya, những lẵng mộng đầy của nàng tiên giấc ngủ…
Dòng sông đời rộng lớn mênh mông, nào ai biết được Thuyền giấy sẽ đi về đâu. Đời sóng gió, có bao thuyền ra tới bể… Thuyền chìm về tham vọng, thuyền lật bởi phù phiếm… Những lá thuyền ước mơ, mi chở gì?
Con thuyền ấy đến Từ đâu? Đến từ Nụ cười khẽ rung rinh đôi môi bé ngủ… có tia trăng non vây viền quanh… Con thuyền ấy được dựng lên bằng gì? Con sẽ là mây…mây nhỏ căng buồm… mẹ sẽ là trăng… con thuyền lướt sóng mang theo hàng hóa là cái rổ đựng đầy những giấc mơ Bên trời xanh mãi – những nụ mầm mới – Để lại trong cõi thiên thu – Hình dáng nụ cười (Trịnh Công Sơn). Và dĩ nhiên, con thuyền ấy được lái bằng Cung cách của bé: Trên mảnh đất của vầng trăng non bé bỏng – Bé tự do không hề bị ràng buộc chút nào…
 Lê Từ Hiển
                                      

Phan Hoàng canh cánh niềm cố hương

Phan Hoàng canh cánh niềm cố hương
22.3.2013-21:45
Phan Hoàng và Hoàng Đình Quang ở Trường Sa


NHÀ THƠ PHAN HOÀNG
Canh cánh nỗi niềm cố hương

TÂM ANH

NVTPHCM- Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng vừa trở thành tác phẩm duy nhất được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm 2012, đồng thời được trao Bằng khen Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012. Phần thưởng này thật xứng đáng cho thi sĩ quê Phú Yên sau mười năm nỗ lực không ngừng trên con đường sáng tạo thi ca của anh.

Chỉ trong vòng 3 năm qua, người gốc Phú Yên đã giành 2 giải thưởng văn học quan trọng nhất của Hội Nhà văn TP.HCM. Năm 2010, hoạ sĩ - nhà văn Trần Luân Tín với tập truyện ký Được sống và kể lại đã đoạt giải thưởng duy nhất, còn năm 2012 này tới lượt tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng cũng được trao giải thưởng duy nhất (năm 2011, không có tác phẩm nào nhận giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM, mà chỉ có tặng thưởng). Đó là điều đáng tự hào với người Phú Yên, vùng đất chưa phải có bề dày truyền thống văn học như nhiều nơi khác, kể cả miền Trung.
Đối với riêng nhà thơ Phan Hoàng, Chất vấn thói quen là tập thơ thứ ba của anh sau hai tập Tượng tình (1995) và Hộp đen báo bão (2002). Nghĩa là kết quả chọn lọc của 10 năm làm thơ, hay nói như nhà văn Trần Nhã Thuỵ là 10 năm “ẩn dật thơ” của Phan Hoàng. Trong tập thơ này, anh dành nhiều trang viết về quê hương mà nổi bật là hình ảnh người mẹ hiền xúc động. Đây là cảnh mẹ gánh con đi tản cư vì chiến tranh trong bài Mẹ gánh ước mơ:
“Bàn chân trần rễ tre toé máu
thúng gióng gió đánh hụt hơi
mẹ đặt con ngồi dưới hố bom khét bầm thân đất
ngoái cổ ngóng về đồng làng tan hoang mồ mả ông bà

Gỡ nón quạt mùi bom
bóng mẹ che tầm đạn
âu yếm con mẹ khóc
bập bẹ mẹ con cười
nụ cười con thơ
                      mạnh hơn
                                     tiếng gầm đại bác
nụ cười gieo vào lòng mẹ hạt giống hy vọng
đồng làng bình yên gặt những mùa sau…”
Khi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều báo tin mẹ của ông mất ở Sông Đáy, nhà thơ Phan Hoàng thảng thốt nghĩ đến mẹ mình:
“Sông Đáy trong mơ vẫn dâng ngang trời
mẹ như cánh chim đêm
mãi mãi hoá thân vào châu thổ

Ngày lót lá
bạn níu lòng sông Đáy
tôi bàng hoàng lội ngược gió sông Ba”
                  (Níu lòng sông Đáy)
Nơi chôn nhau cắt rốn vẫn luôn canh cánh trong lòng nhà thơ:
“Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng
Gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương”
                                (Ly hương gió)
Vừa cùng Phan Hoàng đi thực tế sáng tác ở nông trường cao su Đồng Nai mà anh là trưởng đoàn, trở về bỗng nghe tin vui và ngồi với nhau trong quán cà phê giữa lòng Sài Gòn ầm ào xe cộ, anh cho tôi biết khi tập thơ Chất vấn thói quen vượt qua 22 tác phẩm khác để được vinh danh:
- Thú thực tôi không dự tính tham dự Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM, nhưng giờ chót nhiều bạn thơ gọi điện khuyên tôi nên góp mặt, sau đó nhà thơ Phùng Hiệu với tư cách hội viên đã trực tiếp đề cử và mang tập thơ Chất vấn thói quen đến gửi ban tổ chức. Tôi thực sự biết ơn các đồng nghiệp đã quan tâm tới việc sáng tác của mình. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cũng vậy, tập thơ được các đồng nghiệp ở Hà Nội đề cử và vượt qua hơn 100 tác phẩm khác để vào chung khảo.
* Thưa anh, nghe tin tập thơ Chất vấn thói quen trở thành tác phẩm duy nhất được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm 2012, chắc anh có cảm xúc đặc biệt?
- Mọi giải thưởng luôn là sự khích lệ cho người cầm bút. Tôi cảm thấy sự sáng tạo của mình được ghi nhận. Đó cũng là thành quả lao động nghệ thuật thi ca với tinh thần đổi mới thi pháp trong 10 năm qua của tôi. Gia đình tôi vừa mừng sinh nhật mẹ tôi 80 tuổi, nên giải thưởng này còn là món quà ý nghĩa kính tặng đấng sinh thành, khi bài đầu tiên trong tập thơ là Mẹ gánh ước mơ, tôi viết về mẹ, người phụ nữ chịu nhiều đau thương mất mát vì chiến tranh. Quê hương Phú Yên cũng là nguồn cảm hứng lan toả suốt tập thơ này.
* Ít có tập thơ nào gần đây như Chất vấn thói quen khi vừa ra đời đã được đón nhận với nhiều bài phê bình, giới thiệu và được nhiều người tìm đọc. Điều đó chứng tỏ thơ ca không phải hoàn toàn bị người đọc lãng quên. Có bao giờ anh thử hình dung cuộc sống này không còn thơ?
- Đã có nhiều định nghĩa cao quý dành cho thơ. Đối với tôi, thi ca đích thực đồng nghĩa với cái đẹp. Thơ ca có mặt trong lời ru, cánh diều thuở ta còn bé. Thơ ca ẩn hiện trong ánh mắt, làn môi, mái tóc của cô gái hay chàng trai thuở ta biết những rung động tình ái đầu đời. Thơ cũng là nước da sạm nắng, tấm lưng còng của ông bà, cha mẹ hoặc cánh đồng, con đường làng mà khi đi xa ta thường hướng về. Vì vậy, tôi không bao giờ nghĩ thơ ca có thể mất đi, mà nó chỉ ẩn hiện trong cuộc sống này. Những người tinh tế sẽ phát hiện được vẻ đẹp của thơ ca, đơn giản như những hạt sương long lanh trên cành hoa buổi sớm, hay áng mây trôi qua trên đầu ta buổi chiều… Tóm lại, thơ cũng như cái đẹp không bao giờ bị lãng quên, mà điều quan trọng là chúng ta có biết phát hiện, sáng tạo và thưởng thức nó để cuộc sống thêm thi vị.
* Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng thơ ca là phù phiếm, nhuận bút chẳng là bao, không nuôi sống được người làm thơ. Chẳng những vậy thơ còn làm cho nhiều người điêu đứng vì nhiều lý do khác nhau. Anh nghĩ sao?
- Đúng là thơ không trực tiếp sản xuất ra lúa gạo hoặc xe máy, ô tô. Nhưng thơ giúp cho người nông dân hay công nhân nuôi dưỡng ước mơ cao đẹp của mình. Một khi con người có ước mơ, có hoài bão thì hy vọng có thể làm được rất nhiều việc tốt đẹp cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước. Không kể những “tai nạn” ngoài thơ mà thơ là phương tiện để hãm hại nhau, những nhà thơ đích thực biết mình là ai, năng lực mình đến đâu, vị trí mình ở đâu. Có một số trường hợp người làm thơ bị lao đao, điêu đứng có thể họ bị căn bệnh hư danh hoặc chạy theo những điều phù phiếm. Tôi không chấp nhận những người cho rằng uống rượu mới làm được thơ, hay yêu người đẹp mới ra thơ… Nó chẳng khác nào một vận động viên thể thao cần đến doping.
Đoàn nhà văn TP.HCM về thăm mẹ già của Phan Hoàng ở Phú Yên

* Mới đi Trường Sa về, anh lại “hành quân” lên các tỉnh biên giới phía Bắc, rồi về quê Phú Yên và duyên hải miền Trung, đi nông trường cao su miền Đông Nam Bộ,… Nhiều người ngạc nhiên lấy năng lượng đâu mà nhà thơ - nhà báo Phan Hoàng di chuyển nhiều như vậy, và mỗi chuyến đi có mang lại cho anh nhiều cảm hứng?
- Năm Nhâm Thìn - 2012 đúng là tôi đi nhiều hơn mọi năm. Tôi nghĩ khi có cơ hội khám phá vẻ đẹp của đất nước mình, giao lưu gặp gỡ bạn bè đồng nghiệp, thì không nên bỏ qua. Nó luôn mang lại nhiều trải nghiệm bổ ích. Nhờ những chuyến đi ấy, đặc biệt là hành trình đầy ấn tượng ở Trường Sa, đã giúp tôi sắp hoàn thành tập thơ mới Bước gió truyền kỳ sắp tới sẽ xuất bản.
* Đi nhiều, anh thường nói gì với bạn văn về quê hương mình?
- Có những đồng nghiệp đi nước ngoài nhiều, nhưng lại hỏi tôi rằng Phú Yên có gì lạ. Tôi nói quê tôi có nhiều cái “nhất” và cái “độc” như Đá Bia, gành Đá Đĩa, Mũi Điện, hòn núi thi ca Nhạn Tháp, đồng lúa Tuy Hoà,… bạn hãy đến sẽ biết. Và một số bạn bè đã khám phá Phú Yên qua những lời giới thiệu của tôi.
* Nghe nói anh hay về quê làm từ thiện và có kế hoạch “qui cố hương” sau này?
- Quê hương là nỗi niềm trăn trở của tôi. Trong lời đề từ tập thơ đầu tay Tượng tình năm 1995, tôi viết:
Tình cha Đá Bia nắng mưa kiêu hãnh
Nghĩa mẹ sông Ba sớm chiều canh cánh
Hồn thơ cuồng sóng Biển Đông
Đến nay tôi đã tròn 30 năm rời căn nhà tuổi thơ để đi học khắp nơi, rồi làm việc trải qua nhiều nghề khác nhau để mưu sinh. Tôi mong mình có thời gian để về sống bên mẹ già nhiều hơn, có điều kiện giúp bà con quê hương còn nghèo khó, phục dựng ngôi chùa cổ Long Tường khang trang để hương khói tổ tiên, ông bà…
***

Có thể nói năm Nhâm Thìn - 2012 vừa qua, nhà thơ Phan Hoàng gặt hái nhiều thành công. Đầu năm, sau khi được mời tham dự Liên hoan Thơ quốc tế châu Á- Thái Bình Dương trở về, anh lại ra Hà Nội nhận Giải 3 cuộc thi “Đây biển Việt Nam” do Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam và báo VietNamNet tổ chức, một giải thưởng “bề thế” trong tình hình biển đảo đang “nóng”. Cuối năm, anh lại nhận cúp đúp giải thưởng cho tập thơ Chất vấn thói quen vốn được dư luận văn học chú ý trong năm qua. Một năm “đại hỉ” với anh. Đó là một niềm vinh dự, mà cũng là một trách nhiệm để thi sĩ quê Phú Yên có những bước đột phá sáng tạo mới trên con đường văn học lắm gian truân thử thách.
THEO VNPY XUÂN QUÝ TỴ 2013

Tháng Tư - thơ Lê Từ Hiển

Tháng Tư
                  (Ngày Cá hồn nhiên nhớ Trịnh) 

Tháng Tư nụ cười tặng em
Xanh như vòm cây hạ trắng
Lặng nghe này em cỏ lá
Hòa âm khúc nhạc đầu tiên.

Tháng Tư ngọn gió lang thang
Đánh thức những miền thiếp ngủ
Vai gầy gọi nắng ướt mi
Hót đầu ngọn lau chim nhỏ.

Giọt sương yêu thương tuyệt vọng
Bằng lăng trẻ lại một lần
Sỏi đá gốc cội xù xì
Nở tím nụ cười ban sơ.

Phố cong mang hình trăng non
Giấu nửa giấc mơ vào biển
Sợi tóc chập chờn mộng mị
Chợt nhớ bàn tay lời ru…
Lê Từ Hiển

Đối thoại văn chương của Trần Nhuận Minh

oạ đàm giới thiệu sách “Đối thoại văn chương” của Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng

Cuộc đối thoại văn chương đa chiều

Cập nhật lúc 05:55, Chủ Nhật, 10/03/2013 (GMT+7)
Chiều 1-3, tại Trung tâm Văn hoá Pháp (24 Tràng Tiền, Hà Nội), Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh đã tổ chức buổi toạ đàm giới thiệu cuốn sách “Đối thoại văn chương” (Nhà xuất bản Tri thức, 2012) của hai tác giả Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng. Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri thức và nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, đã điều hành chương trình. Có mặt tại cuộc toạ đàm có khá đông các nhà văn, nhà thơ như: Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Dương Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Đặng Mừng, Lê Thiếu Nhơn, Châu Hồng Thuỷ, Ngọc Bái, Trần Đăng Khoa, Nam Giao (nhà văn định cư ở Canada) v.v.. và các nhà phê bình văn học như: Đỗ Lai Thuý, Lê Thành Nghị… Phóng viên của một số cơ quan thông tấn báo chí và nhiều bạn yêu thơ tại Hà Nội cũng đã đến tham dự. Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đọc đã gửi lẵng hoa chúc mừng.
Nhà thơ Hữu Thỉnh (bên trái) tặng hoa cho hai tác giả Trần Nhuận Minh (giữa) và Nguyễn Đức Tùng.
Nhà thơ Hữu Thỉnh (bên trái) tặng hoa cho hai tác giả Trần Nhuận Minh (giữa) và Nguyễn Đức Tùng.
Tại buổi toạ đàm này, giáo sư Chu Hảo phát biểu vài lời đề dẫn, gợi mở cho cuốn sách. Sau đó, hai tác giả đã giới thiệu vài nét về tác phẩm viết chung. “Đối thoại văn chương” là kết quả của nhiều tháng trò chuyện và trao đổi thư từ của hai tác giả trong suốt năm 2011 về những vấn đề khác nhau của thơ nói chung và thơ Việt Nam nói riêng. Cuốn sách gồm 265 câu hỏi đáp, được chia thành 9 chương; không quá câu nệ vào cấu trúc mà chủ yếu gợi mở hứng thú cho người đọc. Trong đó, nhà thơ Trần Nhuận Minh thể hiện những suy nghĩ, hồi ức trăn trở của mình xoay quanh văn chương, từ đó, hy vọng phác thảo con đường thơ Việt Nam hôm nay. Nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết: “Chúng tôi đã thực hiện tác phẩm bằng những suy nghĩ, dù ít nhiều có tính ngẫu hứng, đôi khi bất ngờ, nhưng đầy tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc, công phu có sự từng trải và kinh nghiệm của người chịu học và luôn say mê với nghề”. Nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng (hiện sống ở Canada), ngoài việc nêu câu hỏi dẫn giải cũng đã luận bàn khá nhiều vấn đề nghệ thuật thi ca mà ông quan tâm. Thông qua cuốn sách này, hai tác giả mong muốn cuộc trò chuyện giữa hai người sẽ trở thành cuộc đối thoại đa chiều giữa độc giả và nhà thơ, cả trong nước lẫn hải ngoại.

Các nhà văn, nhà thơ, nhà báo và bạn yêu thơ đã trao đổi một cách thoải mái, cởi mở cùng với hai nhà thơ Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng, đây là một cuốn sách lý thú, bổ ích được thể hiện bằng ngôn ngữ Việt, văn hoá Việt. Lý giải về cơ duyên hình thành cuốn sách, nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng cho biết, ông là người xa quê từ lâu, sống ở phía “ngoại vi” thơ Việt. Ông đã gặp một người sống ở “trung tâm” của đời sống văn học trong nước là Trần Nhuận Minh. Vì vậy, theo nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, cuốn sách được hiểu như là một cuộc đối thoại giữa trung tâm và ngoại vi để mọi người hiểu hơn văn học văn hoá Việt; để tri ân quê hương Việt Nam, con người Việt Nam đã an ủi động viên ông và giúp bạn đọc hiểu hơn về cái cốt lõi thơ Trần Nhuận Minh. Ông đánh giá cao thơ thế sự và thơ thời sự của Trần Nhuận Minh. Bên cạnh đó, cũng theo ý kiến của Nguyễn Đức Tùng, thơ Trần Nhuận Minh còn đang vận động và chưa có ai nói được cái cốt lõi thơ Trần Nhuận Minh. Về điểm này, ông lưu tâm đến quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà phê bình và coi đây là khâu còn yếu trong việc tiếp nhận thơ Trần Nhuận Minh. Không tán đồng với quan điểm của Nguyễn Đức Tùng, nhà thơ, nhà phê bình văn học Vũ Quần Phương lưu tâm đến giá trị tự thân của thơ, đời sống riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, ông cũng đánh giá cao cuốn sách trong việc hợp tác giữa một tác giả trong nước và một tác giả nước ngoài, nhất là những vấn đề văn học lần đầu tiên được đưa ra bàn luận. Theo ông, cuốn sách cũng đã mở ra một hướng đi mới trong công tác nghiên cứu văn học.

Cùng chung cảm nhận với nhà thơ Vũ Quần Phương, nhà thơ Châu Hồng Thuỷ, Chủ tịch Hội VHNT Việt Nam tại Nga, Tổng biên tập Tạp chí “Người bạn đường”, đánh giá cao sự phối hợp, cộng hưởng giữa người dẫn chuyện Nguyễn Đức Tùng và nhân vật trung tâm Trần Nhuận Minh. Theo ông Châu Hồng Thuỷ, toàn bộ tập sách là cuộc trò chuyện cởi mở, lời lẽ lại vô cùng giản dị. Chương nào, trang nào cũng sinh động, hấp dẫn, dí dỏm. Trần Nhuận Minh nói nhiều, nhưng không tẻ nhạt, không nhàm chán. Nguyễn Đức Tùng đóng vai trò người phỏng vấn, người dẫn chuyện, nói ít, nhưng vẫn cho ta thấy đó một người hiểu biết sâu sắc về nhiều mặt, biết khơi gợi, dẫn dắt để cho người đối thoại có dịp bộc lộ sự hiểu biết, quan điểm, kinh nghiệm và vốn sống của mình… Cuốn sách còn như một cuộc đối thoại của nhà thơ Trần Nhuận Minh với Nguyễn Đức Tùng, với bạn đọc và với giới phê bình về những giá trị của văn học quá khứ. Cũng nhấn mạnh đến tính đối thoại của cuốn sách, nhà văn Nguyễn Quang Thiều cho rằng, nó đã khai mở nhiều vấn đề của văn học Việt Nam cả trong nước lẫn hải ngoại. Nó là cuộc đối thoại giữa hai nhà thơ ở hai miền quê khác nhau, lứa tuổi khác nhau, môi trường sống khác nhau, hệ mỹ cảm khác nhau v.v. để cùng đi tìm một giá trị đích thực của văn chương. Tính đối thoại ấy hợp với nhu cầu của thời đại, thời đại cần mọi sự đối thoại. Cũng theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, đây là một quyển sách được làm bởi tâm huyết của hai nhà thơ; rất cần được đọc một cách trân trọng...

Được biết, Trần Nhuận Minh cũng là nhà thơ đầu tiên của Quảng Ninh được tổ chức giới thiệu tác phẩm một cách trân trọng theo phong cách hiện đại kiểu Pháp. Buổi toạ đàm đã xới lên một không khí trao đổi học thuật về văn học Việt Nam, thơ Việt Nam và thơ Trần Nhuận Minh. Do đó, cuốn sách của hai tác giả cũng đã tạo dựng được những giá trị văn học nhất định, nói như Nguyên Ngọc thì “Đối thoại văn chương là cuốn sách tốt chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực trong đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam… Nó là một  trong những cánh cửa đáng tin cậy dẫn đến một thế giới khá bí ẩn mà cũng khó lý giải - thế giới thơ ca”.
Phạm Học