Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Nguyên sơ một ánh Trăng non- Lê Từ Hiển

1. Cho tuổi vầng trăng non
Câu lạc bộ Văn nghệ Trẻ Trường Đại học Quy Nhơn tổ chức “hội thảo bàn tròn” kỷ niệm 150 năm ngày sinh và 70 năm ngày mất của thiên tài toàn năng R.Tagore (1861 – 1941), tình cờ trùng vào ngày Quốc tế thiếu nhi 1.6. Ngẫu nhiên tình cờ như trăng đến trăng đi Trăng bao nhiêu tuổi trăng già…
Tagore là “nhà thơ của trí tuệ muôn màu” với Tư tưởng Thái Nhất(the Supreme One), là thực thể có cá tính(personality) sáng tạo(create) ra thế giới và con người để tự thể hiện bản sắc độc đáo của mình(self- realization). Tagore là nhà thơ tình nổi tiếng thế giới, là Heine của Ấn Độ. Một  tình yêu thiết tha con người giữa Thực và Mộng trong cõi trăm năm hữu hạn Tim tôi nhịp sóng ven bờ trần gian… mãi chảy một dòng thanh nhạc diễm tình. Tagore còn là nhà thơ của tuổi măng non như một V.Hugo của Ấn Độ. Trong bản chất vô cầu của thi ca vang lên từ Santiniketan(Xứ sở Bình yên) như tiếng hót chim non hồn nhiên đưa ta vào sâu tận đáy lòng vạn vật và vươn tới chín tầng thanh không Trong tiếng lá non tơ rung rinh xao xuyến – Nghe không trung dâng vũ điệu vô hình – Những giọt nắng lung linh màu sắc – Nghe âm vang nhịp thở trời xanh.
Người Việt Nam yêu thích cả 3 nội dung chính trong sáng tạo thơ ca Tagore. Thơ triết luận với niềm tin Tôn giáo thuộc về Con Người – Thơ tình yêu với những bản tình ca giàu cung bậc của hai giọng điệu hài hòa: trữ tình của tình nhân và triết lý của thi nhân( bài thơ tình số 28 SGK lớp 11 PTTH) – Thơ cho thế giới trẻ thơ hồn nhiên trong sáng đẹp như vầng Trăng non      (Mây và sóng – SGK lớp 9 PTCS)
    Tagore viết cho trẻ em trên cương vị người thầy, người cha, người anh, người bạn… trong hoàn cảnh hết sức đau buồn, người vợ và hai con ông lần lượt qua đời. Tập thơ Sisu( Trẻ thơ, 1909) gồm 40 bài không còn là câu chữ mà là máu thịt tình thương. Đó là một thế giới thơ ngây được kể bằng giọng trẻ thơ mà ngân vang bao điều về vũ trụ, nhân sinh, tình mẹ con muôn đời… dệt nên bởi những hình tượng tuyệt vời và tấm lòng nhân hậu bao la.
Khi tập thơ được Tagore chuyển dịch sang tiếng Anh, The Crescent Moon(Trăng non – 1915), tờ The Nation nhận xét tập thơ là cả “một trí tưởng tượng về tuổi thơ”, tờ The Golbe nhận thấy “một sự khám phá sâu sắc và tinh tế, huyền ảo hơn trong Thơ Dâng“. Thơ cho tuổi thơ trong bản chất đích thực là thơ với triết lý vô cầu, đẹp như vành Trăng non trinh nguyên. Hãy đến bên bờ trái đất, đưa tay lên trời, con sẽ được nhấc bổng lên mây… Hãy đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại, con sẽ được làn sóng nâng đi…
2. Buổi sơ khai… bé đến…
Vũ trụ với mặt trời, mặt trăng, vì sao và muôn vàn hành tinh khơi gợi trí tò mò của trẻ. Người lớn với định kiến khôn ngoan, tư duy logic xơ cứng về một thế giới bên ngoài thật và hiển nhiên, không thể tin trẻ em “dám” nhận thức khác mình. Trẻ, nhìn nhận thực tế một cách vừa cụ thể vừa trừu tượng và sử dụng tư duy hỗn hợp để hỏi và tự trả lời mà dựng lên thế giới riêng mình. Mẹ ơi có phải – mùa đông lạnh quá – mùa xuân trốn chạy…
Con người từ đâu ra và con người trọn một vòng đời đi về đâu… những câu hỏi đau đáu triết lý nhân sinh. Trẻ trong đời người là giai đoạn Khai sáng của hành trình nhân loại qua lăng kính tưởng tượng. Trẻ hay hỏi, và câu hỏi trẻ ngộ nghĩnh hồn nhiên Mẹ ơi con từ đâu đến vậy? – Mẹ đã nhặt con ở tận nơi nào? V.Hugo ngày trước trong Nghệ thuật làm ông từng ngạc nhiên khám phá ra vị trí của trẻ trong vũ trụ: Bé chính là bình minh và hồn ta là cánh đồng bát ngát – Cánh đồng đã ướp hương những loài hoa dịu mát vào trong hơi thở của em( Khi em bé hiện ra). Có nhiều lý do để trẻ em trở thành tặng vật có ý nghĩa nhất trên thế gian này. Giản dị thay, đối với Tagore, chỉ vì trẻ đến từ Tình yêu. Một tình yêu vô cầu bất tận, bắt nguồn từ tạo hóa – cuộc sống – trái tim Mẹ. 20 câu thơ trong Buổi sơ khai tạo nên một chuỗi so sánh độc đáo gợi hình, biểu cảm và giàu liên tưởng. Con là ánh bình minh, là mùi hương phảng phất, là ước mơ – kho tàng đặt vào đôi tay mẹ Khi, trong thời con gái, trái tim mẹ nở xòe như một đóa hoa – Con đã lượn quanh nó như một mùi hương phảng phất – Vẻ tươi mát nhẹ nhàng của con – nở trên chân tay non trẻ của mẹ – như một ánh hồng – trên trời cao – trước buổi bình minh. Thánh thiện mà gần gũi chân thật, như thiên thần mà rất đỗi bình dị đáng yêu, bé đến từ xứ sở thần tiên như một kẻ ăn mày để có thể xin Cả kho báu tình thương của mẹ( Cung cách của bé).
Thích được hỏi ý kiến và thích giải đáp. Đó không phải là logic đúng sai. Yêu thương thì có hiểu biết. Thơ Tagore thường sử dụng hình thức đối thoại hỏi – đáp nhưng thực chất là độc thoại nội tâm. Điều bí ẩn và huyền diệu nhất của cuộc đời: Con từ đâu đến… cứ thế tuôn tràn bộc lộ bản chất trẻ thơ, tình yêu thương. Thiên đường sinh ra ở trong con – Trong cánh tay của bà mẹ đất bụi này… Trẻ đến từ tình yêu, vì tình yêu, nên trẻ chính là “thánh nhân” để cứu vớt cuộc sống này – một cuộc sống đầy tranh giành, hoài nghi và tuyệt vọng( Em bé thiên thần).
3. Loại hàng hóa kỳ diệu
Ai chẳng một lần chơi trò thơ dại, gấp chiếc thuyền… rãnh nước trước sân nhà. Ôi rãnh nước hóa biển rộng sông dài. Hình ảnh thuyền giấy là biểu tượng cho khát vọng lên đàng, phiêu du những chân trời cao rộng, chứa đầy ắp những ước mơ thơ trẻ về một thế giới hòa bình, hòa hợp Trên thuyền, tôi chở những nụ hoa Siuli hái ở vườn nhà và mong rằng những nụ hoa nở buổi bình minh sẽ yên ổn cập bờ lúc đang đêm. Vòng tay nối kết ấy thật giản dị mà diệu kỳ ấm áp Những dòng sông nối với đôi tay – liền với biển khơi        (Trịnh Công Sơn). Và cứ thế, ra đi trên con thuyền mang tầm vóc vũ trụ Tôi thả thuyền giấy rồi nhìn lên trời thấy những áng mây nhỏ đang căng buồm trắng. Ấy là mắt nhìn minh triết – anh nhi Con sông là thuyền – Mây xa là buồm( Trịnh Công Sơn). Bốn mùa thay lá… Chèo dòng nước ngược con sông hoài niệm, đi về đâu… thuyền giấy tuổi thơ… Có những con thuyền chẳng bao giờ ra tới bể – đời. Vì rằng, người ta chở gì trên những con – thuyền – ước – mơ kia.
Cậu bé trong bài thơ Thuyền giấy cho thuyền chở đầy hàng hóa. Nhưng loại hàng hóa này thật đặc biệt, thật kỳ diệu. Người ta chỉ có thể bắt gặp ở thế giới trẻ thơ trong trẻo, đầy ắp tưởng tượng: Chiếc rổ đựng đầy những giấc mơ.
Trong thế giới người lớn, hàng hóa gắn với vật chất, trao đổi, bán mua và dĩ nhiên có lãi lời toan tính. Và qua mắt Trăng non, thấy thật buồn cười đến tội nghiệp… ngồi đếm mãi những đồng xu, mò ngọc trai, thu nhặt những thoi bạc nén vàng... Cậu bé cũng làm thủy thủ , nhưng sẽ lái con thuyền vượt bảy biển mười ba sông đến xứ sở thần tiên. Còn hàng hóa ư? Cậu bé tâm sự với mẹ: Mẹ ơi, mẹ có muốn hết đụn vàng này đến đụn vàng khác? – Kìa bên bờ suối vàng óng ánh, cánh đồng đầy lúa chín vàng – Và trong rừng, trên lối mòn râm mát, hoa chămpa vàng rụng rơi khắp mặt đất – Con sẽ lượm tất cả vào đầy trăm giỏ cho mẹ.
    Trong thế giới của những Trăng non, đầy ắp những loại hàng hóa diệu kỳ ấy. Chiếc vỏ sò, nhánh củi gãy, dăm chiếc lá… đầy ắp cái đẹp thuần khiết, vô tư của nhân loại. Không phải là những thứ hàng hóa mà người lớn chúng ta chở nặng – mà cũng thật khốn khó, thảm hại, đáng thương.
Trẻ thơ qua Thuyền giấy rất đỗi hồn nhiên, nhiều mơ ước, khát khao hướng vòm trời, đi tới mọi miền đất lạ với tình bạn và lòng yêu thương. Tôi viết to và đậm tên tôi và tên làng tôi trên mạn thuyền – Tôi hi vọng có người ở nơi nào xa lạ bắt được thuyền và biết rõ tôi là ai. Tưởng tượng phong phú kỳ diệu của trái tim thơ trẻ là yếu tố tạo nên chất thơ, sắc điệu thẩm mĩ của bài thơ Thuyền giấy. Và cứ thế, đưa Thuyền giấy ra khơi. Trong con thuyền đó, những giấc mơ nào chất đầy chiếc giỏ của cậu bé? Những hình ảnh tươi xinh, non tơ, hấp dẫn, thấm đẫm chất thơ: Những đóa Siuli mang hương sắc quê nhà, những áng mây nhỏ đang căng buồm trắng, dòng trôi miên man ánh sao khuya, những lẵng mộng đầy của nàng tiên giấc ngủ…
Dòng sông đời rộng lớn mênh mông, nào ai biết được Thuyền giấy sẽ đi về đâu. Đời sóng gió, có bao thuyền ra tới bể… Thuyền chìm về tham vọng, thuyền lật bởi phù phiếm… Những lá thuyền ước mơ, mi chở gì?
Con thuyền ấy đến Từ đâu? Đến từ Nụ cười khẽ rung rinh đôi môi bé ngủ… có tia trăng non vây viền quanh… Con thuyền ấy được dựng lên bằng gì? Con sẽ là mây…mây nhỏ căng buồm… mẹ sẽ là trăng… con thuyền lướt sóng mang theo hàng hóa là cái rổ đựng đầy những giấc mơ Bên trời xanh mãi – những nụ mầm mới – Để lại trong cõi thiên thu – Hình dáng nụ cười (Trịnh Công Sơn). Và dĩ nhiên, con thuyền ấy được lái bằng Cung cách của bé: Trên mảnh đất của vầng trăng non bé bỏng – Bé tự do không hề bị ràng buộc chút nào…
 Lê Từ Hiển
                                      

Phan Hoàng canh cánh niềm cố hương

Phan Hoàng canh cánh niềm cố hương
22.3.2013-21:45
Phan Hoàng và Hoàng Đình Quang ở Trường Sa


NHÀ THƠ PHAN HOÀNG
Canh cánh nỗi niềm cố hương

TÂM ANH

NVTPHCM- Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng vừa trở thành tác phẩm duy nhất được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm 2012, đồng thời được trao Bằng khen Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012. Phần thưởng này thật xứng đáng cho thi sĩ quê Phú Yên sau mười năm nỗ lực không ngừng trên con đường sáng tạo thi ca của anh.

Chỉ trong vòng 3 năm qua, người gốc Phú Yên đã giành 2 giải thưởng văn học quan trọng nhất của Hội Nhà văn TP.HCM. Năm 2010, hoạ sĩ - nhà văn Trần Luân Tín với tập truyện ký Được sống và kể lại đã đoạt giải thưởng duy nhất, còn năm 2012 này tới lượt tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng cũng được trao giải thưởng duy nhất (năm 2011, không có tác phẩm nào nhận giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM, mà chỉ có tặng thưởng). Đó là điều đáng tự hào với người Phú Yên, vùng đất chưa phải có bề dày truyền thống văn học như nhiều nơi khác, kể cả miền Trung.
Đối với riêng nhà thơ Phan Hoàng, Chất vấn thói quen là tập thơ thứ ba của anh sau hai tập Tượng tình (1995) và Hộp đen báo bão (2002). Nghĩa là kết quả chọn lọc của 10 năm làm thơ, hay nói như nhà văn Trần Nhã Thuỵ là 10 năm “ẩn dật thơ” của Phan Hoàng. Trong tập thơ này, anh dành nhiều trang viết về quê hương mà nổi bật là hình ảnh người mẹ hiền xúc động. Đây là cảnh mẹ gánh con đi tản cư vì chiến tranh trong bài Mẹ gánh ước mơ:
“Bàn chân trần rễ tre toé máu
thúng gióng gió đánh hụt hơi
mẹ đặt con ngồi dưới hố bom khét bầm thân đất
ngoái cổ ngóng về đồng làng tan hoang mồ mả ông bà

Gỡ nón quạt mùi bom
bóng mẹ che tầm đạn
âu yếm con mẹ khóc
bập bẹ mẹ con cười
nụ cười con thơ
                      mạnh hơn
                                     tiếng gầm đại bác
nụ cười gieo vào lòng mẹ hạt giống hy vọng
đồng làng bình yên gặt những mùa sau…”
Khi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều báo tin mẹ của ông mất ở Sông Đáy, nhà thơ Phan Hoàng thảng thốt nghĩ đến mẹ mình:
“Sông Đáy trong mơ vẫn dâng ngang trời
mẹ như cánh chim đêm
mãi mãi hoá thân vào châu thổ

Ngày lót lá
bạn níu lòng sông Đáy
tôi bàng hoàng lội ngược gió sông Ba”
                  (Níu lòng sông Đáy)
Nơi chôn nhau cắt rốn vẫn luôn canh cánh trong lòng nhà thơ:
“Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng
Gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương”
                                (Ly hương gió)
Vừa cùng Phan Hoàng đi thực tế sáng tác ở nông trường cao su Đồng Nai mà anh là trưởng đoàn, trở về bỗng nghe tin vui và ngồi với nhau trong quán cà phê giữa lòng Sài Gòn ầm ào xe cộ, anh cho tôi biết khi tập thơ Chất vấn thói quen vượt qua 22 tác phẩm khác để được vinh danh:
- Thú thực tôi không dự tính tham dự Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM, nhưng giờ chót nhiều bạn thơ gọi điện khuyên tôi nên góp mặt, sau đó nhà thơ Phùng Hiệu với tư cách hội viên đã trực tiếp đề cử và mang tập thơ Chất vấn thói quen đến gửi ban tổ chức. Tôi thực sự biết ơn các đồng nghiệp đã quan tâm tới việc sáng tác của mình. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cũng vậy, tập thơ được các đồng nghiệp ở Hà Nội đề cử và vượt qua hơn 100 tác phẩm khác để vào chung khảo.
* Thưa anh, nghe tin tập thơ Chất vấn thói quen trở thành tác phẩm duy nhất được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm 2012, chắc anh có cảm xúc đặc biệt?
- Mọi giải thưởng luôn là sự khích lệ cho người cầm bút. Tôi cảm thấy sự sáng tạo của mình được ghi nhận. Đó cũng là thành quả lao động nghệ thuật thi ca với tinh thần đổi mới thi pháp trong 10 năm qua của tôi. Gia đình tôi vừa mừng sinh nhật mẹ tôi 80 tuổi, nên giải thưởng này còn là món quà ý nghĩa kính tặng đấng sinh thành, khi bài đầu tiên trong tập thơ là Mẹ gánh ước mơ, tôi viết về mẹ, người phụ nữ chịu nhiều đau thương mất mát vì chiến tranh. Quê hương Phú Yên cũng là nguồn cảm hứng lan toả suốt tập thơ này.
* Ít có tập thơ nào gần đây như Chất vấn thói quen khi vừa ra đời đã được đón nhận với nhiều bài phê bình, giới thiệu và được nhiều người tìm đọc. Điều đó chứng tỏ thơ ca không phải hoàn toàn bị người đọc lãng quên. Có bao giờ anh thử hình dung cuộc sống này không còn thơ?
- Đã có nhiều định nghĩa cao quý dành cho thơ. Đối với tôi, thi ca đích thực đồng nghĩa với cái đẹp. Thơ ca có mặt trong lời ru, cánh diều thuở ta còn bé. Thơ ca ẩn hiện trong ánh mắt, làn môi, mái tóc của cô gái hay chàng trai thuở ta biết những rung động tình ái đầu đời. Thơ cũng là nước da sạm nắng, tấm lưng còng của ông bà, cha mẹ hoặc cánh đồng, con đường làng mà khi đi xa ta thường hướng về. Vì vậy, tôi không bao giờ nghĩ thơ ca có thể mất đi, mà nó chỉ ẩn hiện trong cuộc sống này. Những người tinh tế sẽ phát hiện được vẻ đẹp của thơ ca, đơn giản như những hạt sương long lanh trên cành hoa buổi sớm, hay áng mây trôi qua trên đầu ta buổi chiều… Tóm lại, thơ cũng như cái đẹp không bao giờ bị lãng quên, mà điều quan trọng là chúng ta có biết phát hiện, sáng tạo và thưởng thức nó để cuộc sống thêm thi vị.
* Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng thơ ca là phù phiếm, nhuận bút chẳng là bao, không nuôi sống được người làm thơ. Chẳng những vậy thơ còn làm cho nhiều người điêu đứng vì nhiều lý do khác nhau. Anh nghĩ sao?
- Đúng là thơ không trực tiếp sản xuất ra lúa gạo hoặc xe máy, ô tô. Nhưng thơ giúp cho người nông dân hay công nhân nuôi dưỡng ước mơ cao đẹp của mình. Một khi con người có ước mơ, có hoài bão thì hy vọng có thể làm được rất nhiều việc tốt đẹp cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước. Không kể những “tai nạn” ngoài thơ mà thơ là phương tiện để hãm hại nhau, những nhà thơ đích thực biết mình là ai, năng lực mình đến đâu, vị trí mình ở đâu. Có một số trường hợp người làm thơ bị lao đao, điêu đứng có thể họ bị căn bệnh hư danh hoặc chạy theo những điều phù phiếm. Tôi không chấp nhận những người cho rằng uống rượu mới làm được thơ, hay yêu người đẹp mới ra thơ… Nó chẳng khác nào một vận động viên thể thao cần đến doping.
Đoàn nhà văn TP.HCM về thăm mẹ già của Phan Hoàng ở Phú Yên

* Mới đi Trường Sa về, anh lại “hành quân” lên các tỉnh biên giới phía Bắc, rồi về quê Phú Yên và duyên hải miền Trung, đi nông trường cao su miền Đông Nam Bộ,… Nhiều người ngạc nhiên lấy năng lượng đâu mà nhà thơ - nhà báo Phan Hoàng di chuyển nhiều như vậy, và mỗi chuyến đi có mang lại cho anh nhiều cảm hứng?
- Năm Nhâm Thìn - 2012 đúng là tôi đi nhiều hơn mọi năm. Tôi nghĩ khi có cơ hội khám phá vẻ đẹp của đất nước mình, giao lưu gặp gỡ bạn bè đồng nghiệp, thì không nên bỏ qua. Nó luôn mang lại nhiều trải nghiệm bổ ích. Nhờ những chuyến đi ấy, đặc biệt là hành trình đầy ấn tượng ở Trường Sa, đã giúp tôi sắp hoàn thành tập thơ mới Bước gió truyền kỳ sắp tới sẽ xuất bản.
* Đi nhiều, anh thường nói gì với bạn văn về quê hương mình?
- Có những đồng nghiệp đi nước ngoài nhiều, nhưng lại hỏi tôi rằng Phú Yên có gì lạ. Tôi nói quê tôi có nhiều cái “nhất” và cái “độc” như Đá Bia, gành Đá Đĩa, Mũi Điện, hòn núi thi ca Nhạn Tháp, đồng lúa Tuy Hoà,… bạn hãy đến sẽ biết. Và một số bạn bè đã khám phá Phú Yên qua những lời giới thiệu của tôi.
* Nghe nói anh hay về quê làm từ thiện và có kế hoạch “qui cố hương” sau này?
- Quê hương là nỗi niềm trăn trở của tôi. Trong lời đề từ tập thơ đầu tay Tượng tình năm 1995, tôi viết:
Tình cha Đá Bia nắng mưa kiêu hãnh
Nghĩa mẹ sông Ba sớm chiều canh cánh
Hồn thơ cuồng sóng Biển Đông
Đến nay tôi đã tròn 30 năm rời căn nhà tuổi thơ để đi học khắp nơi, rồi làm việc trải qua nhiều nghề khác nhau để mưu sinh. Tôi mong mình có thời gian để về sống bên mẹ già nhiều hơn, có điều kiện giúp bà con quê hương còn nghèo khó, phục dựng ngôi chùa cổ Long Tường khang trang để hương khói tổ tiên, ông bà…
***

Có thể nói năm Nhâm Thìn - 2012 vừa qua, nhà thơ Phan Hoàng gặt hái nhiều thành công. Đầu năm, sau khi được mời tham dự Liên hoan Thơ quốc tế châu Á- Thái Bình Dương trở về, anh lại ra Hà Nội nhận Giải 3 cuộc thi “Đây biển Việt Nam” do Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam và báo VietNamNet tổ chức, một giải thưởng “bề thế” trong tình hình biển đảo đang “nóng”. Cuối năm, anh lại nhận cúp đúp giải thưởng cho tập thơ Chất vấn thói quen vốn được dư luận văn học chú ý trong năm qua. Một năm “đại hỉ” với anh. Đó là một niềm vinh dự, mà cũng là một trách nhiệm để thi sĩ quê Phú Yên có những bước đột phá sáng tạo mới trên con đường văn học lắm gian truân thử thách.
THEO VNPY XUÂN QUÝ TỴ 2013

Tháng Tư - thơ Lê Từ Hiển

Tháng Tư
                  (Ngày Cá hồn nhiên nhớ Trịnh) 

Tháng Tư nụ cười tặng em
Xanh như vòm cây hạ trắng
Lặng nghe này em cỏ lá
Hòa âm khúc nhạc đầu tiên.

Tháng Tư ngọn gió lang thang
Đánh thức những miền thiếp ngủ
Vai gầy gọi nắng ướt mi
Hót đầu ngọn lau chim nhỏ.

Giọt sương yêu thương tuyệt vọng
Bằng lăng trẻ lại một lần
Sỏi đá gốc cội xù xì
Nở tím nụ cười ban sơ.

Phố cong mang hình trăng non
Giấu nửa giấc mơ vào biển
Sợi tóc chập chờn mộng mị
Chợt nhớ bàn tay lời ru…
Lê Từ Hiển

Đối thoại văn chương của Trần Nhuận Minh

oạ đàm giới thiệu sách “Đối thoại văn chương” của Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng

Cuộc đối thoại văn chương đa chiều

Cập nhật lúc 05:55, Chủ Nhật, 10/03/2013 (GMT+7)
Chiều 1-3, tại Trung tâm Văn hoá Pháp (24 Tràng Tiền, Hà Nội), Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh đã tổ chức buổi toạ đàm giới thiệu cuốn sách “Đối thoại văn chương” (Nhà xuất bản Tri thức, 2012) của hai tác giả Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng. Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri thức và nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, đã điều hành chương trình. Có mặt tại cuộc toạ đàm có khá đông các nhà văn, nhà thơ như: Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Mậu, Dương Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Đặng Mừng, Lê Thiếu Nhơn, Châu Hồng Thuỷ, Ngọc Bái, Trần Đăng Khoa, Nam Giao (nhà văn định cư ở Canada) v.v.. và các nhà phê bình văn học như: Đỗ Lai Thuý, Lê Thành Nghị… Phóng viên của một số cơ quan thông tấn báo chí và nhiều bạn yêu thơ tại Hà Nội cũng đã đến tham dự. Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đọc đã gửi lẵng hoa chúc mừng.
Nhà thơ Hữu Thỉnh (bên trái) tặng hoa cho hai tác giả Trần Nhuận Minh (giữa) và Nguyễn Đức Tùng.
Nhà thơ Hữu Thỉnh (bên trái) tặng hoa cho hai tác giả Trần Nhuận Minh (giữa) và Nguyễn Đức Tùng.
Tại buổi toạ đàm này, giáo sư Chu Hảo phát biểu vài lời đề dẫn, gợi mở cho cuốn sách. Sau đó, hai tác giả đã giới thiệu vài nét về tác phẩm viết chung. “Đối thoại văn chương” là kết quả của nhiều tháng trò chuyện và trao đổi thư từ của hai tác giả trong suốt năm 2011 về những vấn đề khác nhau của thơ nói chung và thơ Việt Nam nói riêng. Cuốn sách gồm 265 câu hỏi đáp, được chia thành 9 chương; không quá câu nệ vào cấu trúc mà chủ yếu gợi mở hứng thú cho người đọc. Trong đó, nhà thơ Trần Nhuận Minh thể hiện những suy nghĩ, hồi ức trăn trở của mình xoay quanh văn chương, từ đó, hy vọng phác thảo con đường thơ Việt Nam hôm nay. Nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết: “Chúng tôi đã thực hiện tác phẩm bằng những suy nghĩ, dù ít nhiều có tính ngẫu hứng, đôi khi bất ngờ, nhưng đầy tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc, công phu có sự từng trải và kinh nghiệm của người chịu học và luôn say mê với nghề”. Nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng (hiện sống ở Canada), ngoài việc nêu câu hỏi dẫn giải cũng đã luận bàn khá nhiều vấn đề nghệ thuật thi ca mà ông quan tâm. Thông qua cuốn sách này, hai tác giả mong muốn cuộc trò chuyện giữa hai người sẽ trở thành cuộc đối thoại đa chiều giữa độc giả và nhà thơ, cả trong nước lẫn hải ngoại.

Các nhà văn, nhà thơ, nhà báo và bạn yêu thơ đã trao đổi một cách thoải mái, cởi mở cùng với hai nhà thơ Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng, đây là một cuốn sách lý thú, bổ ích được thể hiện bằng ngôn ngữ Việt, văn hoá Việt. Lý giải về cơ duyên hình thành cuốn sách, nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng cho biết, ông là người xa quê từ lâu, sống ở phía “ngoại vi” thơ Việt. Ông đã gặp một người sống ở “trung tâm” của đời sống văn học trong nước là Trần Nhuận Minh. Vì vậy, theo nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, cuốn sách được hiểu như là một cuộc đối thoại giữa trung tâm và ngoại vi để mọi người hiểu hơn văn học văn hoá Việt; để tri ân quê hương Việt Nam, con người Việt Nam đã an ủi động viên ông và giúp bạn đọc hiểu hơn về cái cốt lõi thơ Trần Nhuận Minh. Ông đánh giá cao thơ thế sự và thơ thời sự của Trần Nhuận Minh. Bên cạnh đó, cũng theo ý kiến của Nguyễn Đức Tùng, thơ Trần Nhuận Minh còn đang vận động và chưa có ai nói được cái cốt lõi thơ Trần Nhuận Minh. Về điểm này, ông lưu tâm đến quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà phê bình và coi đây là khâu còn yếu trong việc tiếp nhận thơ Trần Nhuận Minh. Không tán đồng với quan điểm của Nguyễn Đức Tùng, nhà thơ, nhà phê bình văn học Vũ Quần Phương lưu tâm đến giá trị tự thân của thơ, đời sống riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, ông cũng đánh giá cao cuốn sách trong việc hợp tác giữa một tác giả trong nước và một tác giả nước ngoài, nhất là những vấn đề văn học lần đầu tiên được đưa ra bàn luận. Theo ông, cuốn sách cũng đã mở ra một hướng đi mới trong công tác nghiên cứu văn học.

Cùng chung cảm nhận với nhà thơ Vũ Quần Phương, nhà thơ Châu Hồng Thuỷ, Chủ tịch Hội VHNT Việt Nam tại Nga, Tổng biên tập Tạp chí “Người bạn đường”, đánh giá cao sự phối hợp, cộng hưởng giữa người dẫn chuyện Nguyễn Đức Tùng và nhân vật trung tâm Trần Nhuận Minh. Theo ông Châu Hồng Thuỷ, toàn bộ tập sách là cuộc trò chuyện cởi mở, lời lẽ lại vô cùng giản dị. Chương nào, trang nào cũng sinh động, hấp dẫn, dí dỏm. Trần Nhuận Minh nói nhiều, nhưng không tẻ nhạt, không nhàm chán. Nguyễn Đức Tùng đóng vai trò người phỏng vấn, người dẫn chuyện, nói ít, nhưng vẫn cho ta thấy đó một người hiểu biết sâu sắc về nhiều mặt, biết khơi gợi, dẫn dắt để cho người đối thoại có dịp bộc lộ sự hiểu biết, quan điểm, kinh nghiệm và vốn sống của mình… Cuốn sách còn như một cuộc đối thoại của nhà thơ Trần Nhuận Minh với Nguyễn Đức Tùng, với bạn đọc và với giới phê bình về những giá trị của văn học quá khứ. Cũng nhấn mạnh đến tính đối thoại của cuốn sách, nhà văn Nguyễn Quang Thiều cho rằng, nó đã khai mở nhiều vấn đề của văn học Việt Nam cả trong nước lẫn hải ngoại. Nó là cuộc đối thoại giữa hai nhà thơ ở hai miền quê khác nhau, lứa tuổi khác nhau, môi trường sống khác nhau, hệ mỹ cảm khác nhau v.v. để cùng đi tìm một giá trị đích thực của văn chương. Tính đối thoại ấy hợp với nhu cầu của thời đại, thời đại cần mọi sự đối thoại. Cũng theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, đây là một quyển sách được làm bởi tâm huyết của hai nhà thơ; rất cần được đọc một cách trân trọng...

Được biết, Trần Nhuận Minh cũng là nhà thơ đầu tiên của Quảng Ninh được tổ chức giới thiệu tác phẩm một cách trân trọng theo phong cách hiện đại kiểu Pháp. Buổi toạ đàm đã xới lên một không khí trao đổi học thuật về văn học Việt Nam, thơ Việt Nam và thơ Trần Nhuận Minh. Do đó, cuốn sách của hai tác giả cũng đã tạo dựng được những giá trị văn học nhất định, nói như Nguyên Ngọc thì “Đối thoại văn chương là cuốn sách tốt chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực trong đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam… Nó là một  trong những cánh cửa đáng tin cậy dẫn đến một thế giới khá bí ẩn mà cũng khó lý giải - thế giới thơ ca”.
Phạm Học

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Phỏng vấn nghệ nhân dân gian Đặng Thị Tự - 92 tuổi

Ngày trước, phụ nữ đi hát nhà tơ như tôi chẳng bước ra được khỏi cái sân đình...”

Cập nhật lúc 04:50, Chủ Nhật, 10/03/2013 (GMT+7)
(Nghệ nhân dân gian Đặng Thị Tự trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

Dù đã bước qua tuổi 92 nhưng Nghệ nhân dân gian Đặng Thị Tự (xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà) vẫn rất say mê với các điệu hát nhà tơ - hát, múa cửa đình. Tôi gặp cụ từ Hội đình Đầm Hà trở về...

- Chào cụ, chẳng hay dịp này cụ có được khoẻ không ạ?

+ Cảm ơn anh. Tôi cũng tàm tạm thôi. Ngoài 90 rồi mà. Trí nhớ cũng kém đi. Với lại, yếu hơi rồi, không hát được lâu như trước nữa…

- Thế mà hôm trước, ở Hội đình Đầm Hà, cụ vẫn hát hàng giờ đồng hồ đó thôi ạ?

+ Ừ thì, lúc đó hăng hái lên là hát thôi. Mọi người cứ yêu cầu tôi hát cho nghe nữa mà. Cứ vào hội hát là quên hết cả mệt (cười). Mà biết làm sao được, bọn trẻ như con gái tôi đây, mỗi đứa cũng chỉ hát được vài bài, vài điệu. Tôi đang cố gắng truyền nghề lại cho chúng...

- Thưa cụ, cụ học hát từ khi nào, ai truyền lại cho cụ vậy?
Nghệ nhân dân gian Đặng Thị Tự hát nhà tơ tại Liên hoan Hát nhà tơ - hát, múa cửa đình của tỉnh lần thứ nhất, tại TP Hạ Long năm 2012.
Nghệ nhân dân gian Đặng Thị Tự hát nhà tơ tại Liên hoan Hát nhà tơ - hát, múa cửa đình của tỉnh lần thứ nhất, tại TP Hạ Long năm 2012.
Tôi chỉ biết cố gắng lấy hơi dài hơn, hát nhiều hơn cho mọi người nghe và hết lòng dạy lại cho họ. Rồi sau này tôi khuất đi chẳng biết thế nào nữa! Bây giờ thôi thì cứ đọc để cho người ta chép để lưu lại phần lời cái đã…
+ Học hát à, sớm lắm cơ đấy. Lúc 12 tuổi tôi đã lẽo đẽo theo cụ Đặng Văn Tăng, người Đầm Hà, để học hát rồi. May mắn cho tôi vì được theo học một người hát giỏi. Sau đó, khi mẹ tôi mất, tôi lại theo bà thím của mình tranh thủ học hát. Ban ngày đi làm đồng áng, tối về lại tranh thủ học. Toàn học bằng cách truyền khẩu thôi. Thế mà cũng biết hát hết cả 9 thứ giọng với cỡ khoảng 50 bài đấy...

- Thế ngày đó cụ đã đi hát ở những đâu ạ?

+ Cứ gọi là đi hát khắp. Bất cứ đâu họ mời là chúng tôi đi hát thôi, từ Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái… Có khi sang cả Trung Quốc nữa cơ đấy. Chúng tôi thành lập được một hội gồm 7 người, trong đó có một ông kép, còn lại là đào để đi hát ở các đình theo lời mời của bà con. Cứ tháng Giêng như thế này là chúng tôi đi hát suốt cả tháng không có ngày nghỉ...

- Cụ đi suốt thế thì nhà cửa, con cái của cụ ra sao?

+ Cũng may là tôi được gia đình nhà chồng rất ủng hộ. Khi tôi đi hát thì ông nhà tôi, các cụ nhà tôi chăm sóc con cái cho tôi. Ông nhà tôi chẳng những không cấm đoán mà còn động viên tôi thêm nữa đấy…

- Vô phép cụ, cháu tò mò muốn biết, có phải ngày xưa cụ ông nhà mình cũng như nhiều cụ khác si mê giọng hát của cụ lắm phải không ạ?

+ Chuyện xưa ấy à? Ai mà biết được! Chỉ thấy lúc mình hát thì mọi người, trong đó đúng là có rất nhiều đàn ông, vây xung quanh để nghe (cười). Có nhiều người nghe, mình càng vui, càng hát khoẻ hơn, hay hơn… Còn về ông nhà tôi, lúc sinh thời, chưa thấy ông ấy nói si mê tôi vì giọng hát. Chỉ biết ông nhà tôi động viên tôi đi hát rất nhiều, ông làm hết cả công việc của tôi nữa …

- Ngày ấy, phụ nữ như các cụ đi hát có được thoải mái như bây giờ không?

+ Không đâu. Có những thứ quy định khắt khe lắm. Khi mới nhập môn, các thầy đã dạy bảo phải tuân thủ quy định… Ngày xưa chúng tôi thường bảo nhau, phụ nữ đi hát nhà tơ chẳng thể bước ra được khỏi cái sân đình. Chả là có quy định các đào chỉ được phép đứng ở cửa đình mà hát thôi, không được vào trong đình đâu. Đình là nơi thiêng liêng, chỉ có quan viên mới được vào. Và không ra được khỏi sân đình, nghĩa là chỉ có được hát nhà tơ thôi, không được tham gia hát chèo, hát giao duyên hay các kiểu hát khác đâu. Bây giờ bọn trẻ đi hát sướng hơn chúng tôi rất nhiều. Tự do thoải mái hơn và tiền thù lao cũng nhiều hơn thời chúng tôi (cười)…

- Hồi cụ đi hát, tiền thù lao ít thì có đủ nuôi con không ạ?

+ Thời chúng tôi đi hát cả hội, hát rất nhiều. Một nơi người ta mời hát cũng hát luôn dăm ba đêm. Tiền thù lao do ông kép lên tiếng ra giá trước. Mỗi lần như thế khoảng 2 đến 3 đồng. Tiền ấy, chia ra ông kép sẽ lấy phần hơn, còn lại thì các đào chia nhau. Đi hát nhiều nhưng cũng chẳng dư dả gì đâu. Lúc còn con gái tôi cũng đủ tiền mua sắm cho mình. Khi lấy chồng có con rồi thì phụ thêm vào với ông nhà tôi để chi tiêu. Nhưng cũng chẳng đủ nuôi con đâu. Dựa vào ông nhà tôi là chính... Nghèo khó vậy mà chúng tôi đi hát rất hăng hái. Sau này đình bị phá hết đi chẳng còn có chỗ mà hát nữa. Giờ đây đình được làm lại thì già mất rồi, thấy tiếc lắm...

- Từ khi dựng lại được đình Đầm Hà cụ có vui không?

+ Vui lắm chứ, vui không kể hết được. Có đến hơn 50 năm rồi tôi không có chỗ mà hát. Vì thế, tôi cũng là một trong những người vận động xây lại đình. Giờ làm lại được đình, tuy không giống hệt được như xưa nhưng thấy vui lắm. Tôi có chỗ để hát lại rồi…

- Nghe nói cụ còn dạy hát ở ngoài đình nữa?

+ Đúng rồi. Lúc dạy ở đình, lúc lại dạy ở nhà. Tôi đã dạy được 20 người. Các chị ấy đều đến học rất say mê. Tôi dạy cả cho con gái tôi nữa. Trước khi dạy tôi phải ngồi nhớ lại phần lời, đọc cho người ta ghi ra giấy. Cả tháng trời mới ghi hết được lời hát. Nhà cũng nhiều việc, cháu con đi làm suốt nên nhiều lúc tôi vừa nấu cơm vừa đọc cho người ta chép…

- Cụ còn nhớ hết được các giọng, các bài để truyền lại không?

+ Nhớ chứ. Không nhớ hết ngay một lúc được nhưng lâu dần cũng nhớ ra. Tôi đã đọc cho người ta chép lại thành cuốn. Tôi đem những bài ấy ra dạy. Nhưng cũng xin nói thật là các chị ấy bây giờ học chỉ được dăm bài thôi. Học hát nhà tơ phải có năng khiếu và phải say mê. Các chị ấy còn bận bịu nhiều thứ khác, lại còn có nhiều cái để hát nữa. Có chị có chất giọng tốt nhưng cũng không thể hát theo được cái kiểu ngày xưa chúng tôi vẫn hát. Có chị lên hát ở liên hoan người ta thích nghe quá cứ yêu cầu hát thêm bài khác nhưng có thuộc đâu, đành chịu. Khổ thế đấy! Lại có chị khác hát chèo rất giỏi, sang gặp tôi bảo chuyển từ chèo sang nhà tơ thì khó gì. Thấy chị hăng hái tôi dạy nhưng được vài buổi thì chị không hát được…

- Hát nhà tơ khó vậy ư? Cụ có sợ sau này nó bị mai một mất không?

+ Thực ra cũng không quá khó. Chỉ cần có khiếu, rồi hiểu nó và yêu nó là hát được thôi. Còn chuyện sợ mai một, thú thực là tôi cũng thấy ngài ngại, tiêng tiếc thế nào ấy. Tôi chỉ biết cố gắng lấy hơi dài hơn, hát nhiều hơn cho mọi người nghe và hết lòng dạy lại cho họ. Rồi sau này tôi khuất đi chẳng biết thế nào nữa! Bây giờ thôi thì cứ đọc để cho người ta chép để lưu lại phần lời cái đã…

- Xin cảm ơn cụ! Chúc cụ luôn mạnh khoẻ và mãi hát hay.
Phạm Học

Ngày xuân vãng cảnh chùa Thanh Lương-


Ngày xuân vãng cảnh chùa Thanh Lương

PHẠM VĂN HỌC | 01/03/2012 11:14 (GMT + 7)
AT - Mùa xuân vãng cảnh chùa, cầu tài lộc, cầu phúc, chiêm ngưỡng cảnh chùa, tịnh tâm hướng lên cõi thiện là cái thú của người dân Việt xưa nay. Cái thú ấy từ lâu đã trở thành sinh hoạt văn hóa không thể thiếu, đặc biệt là dịp đón năm mới, nghênh xuân. Những ngày Tết Nhâm Thìn, chùa Thanh Lương (Phú Yên) lại tấp nập khách du xuân cầu phúc lộc, bình an.

Từ một pho tượng kỳ bí...
Chùa Thanh Lương tọa lạc tại thôn Mỹ Quang Nam, xã An Chấn, huyện Tuy An, cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 10km về phía bắc. Chùa nổi tiếng khắp vùng vì câu chuyện ly kỳ của pho tượng Quan Thế Âm.
Đại đức Thích Quảng Ngộ, trụ trì chùa Thanh Lương, kể lại: “Vào sáng sớm ngày 24-12-2004, một duyên sự trọng đại mang tính lịch sử lớn đã đến với chùa Thanh Lương. Pho tượng Bồ Tát Quan Thế Âm bằng gỗ quý trong dáng đứng trên một con rồng, cao 2,2m từ ngoài biển khơi trôi dạt vào Hòn Dứa, cách chùa không xa, được ngư dân phát hiện và báo cho chùa. Chùa thông báo đến chính quyền và tổ chức cho Phật tử ra thỉnh về thờ.
Lúc rước tượng mới thấy kỳ bí hơn nữa. Tượng Phật dạt vào bờ trong tư thế đứng, đứng giữa khe đá. Bà con di chuyển tượng rất khó khăn, rất nhiều nhân lực và phương tiện được huy động nhưng cũng không thỉnh được tượng về. Chỉ đến khi niệm đúng danh tính của Ngài thì có một con sóng rất lớn ập vào để trợ giúp”.
Tư liệu lưu hành nội bộ trong chùa còn ghi lại rằng: “Pho tượng tuy không còn nguyên vẹn do sự bào mòn của thời gian và ảnh hưởng môi trường do chìm ngấm dưới biển lâu năm, nhưng vẫn dễ dàng nhận ra nguyên bản dáng đứng của Bồ Tát Quan Âm.
Từ đó đến nay có rất nhiều đoàn thể cũng như cá nhân trong và ngoài nước đến tham quan pho tượng này. Những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khảo cổ cũng từng về chiêm bái và khẳng định sự gặp gỡ nhân duyên mang nhiều ý nghĩa này của pho tượng”. Người ta không xác định được xuất xứ cũng như niên đại của tượng mà chỉ đoán khoảng trên 100 năm. Đây cũng là một hiện tượng cực kỳ hi hữu trong khu vực Đông Nam Á. Tượng Phật còn độc đáo hơn là hình ảnh Bồ Tát Quan Âm không có đôi bàn tay.
Nhiều phật tử có tâm đã ngỏ ý được phục chế pho tượng nhưng đại đức Thích Quảng Ngộ kiên định giữ nguyên hiện trạng. Phật tử nơi đây ít gọi là tượng Quan Thế Âm mà hay gọi là tượng Mẹ. Tượng Phật là biểu trưng đầy ý nghĩa cho người Mẹ phương Đông. Chi chít những vết hà biển đục lỗ rỗ trên bức tượng như nói lên rằng Mẹ đã phải gánh chịu mọi nỗi khổ, hứng chịu tất cả nỗi đau trên thế gian này. Điều đó cũng chính là “hạnh” vị tha của Quan Thế Âm.
Đến một điểm hành hương độc đáo...
Nói về cái tên của ngôi chùa, đại đức Thích Quảng Ngộ bộc bạch: “Thanh Lương nghĩa là thanh thản và bình yên. Trong nhịp sống xã hội bộn bề này, đôi khi người ta muốn sống chậm lại và sẽ tìm đến vãng cảnh chùa để tâm được an lạc, lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống. Tất cả cảnh trí nơi đây đều được bố trí theo ý nghĩa ấy để những thông điệp bình dị này có thể len lỏi vào tâm hồn phật tử đến vãng chùa”.
Cái riêng của cảnh chùa là sự giao thoa giữa tâm và cảnh. Tâm cảnh viên dung thì thế giới mới tròn đầy và mùa xuân thường tại khắp cả thế gian. Cảnh quan ở đây không đồ sộ mà e ấp kín đáo, không lộng lẫy tân thời mà uy nghi trầm mặc.
Vị đại đức trụ trì muốn bố trí kiến trúc ngôi chùa theo kiểu bài trí đơn sơ nhất. Phật tử đến vãng cảnh chùa và đi theo lối nào, cách nào là tùy tâm của họ. Đi qua cổng chùa, du khách sẽ bắt gặp ngay trước mắt bức tượng Đức Phật Di Lặc với nụ cười an nhiên tự tại của một người như đã hiểu hết lẽ đời. Kế đến là không gian của đá, những hòn đá được đặt cạnh nhau như tạo nên thế giới im lặng ngây ngô. Nhưng không, đá cũng có ngôn ngữ riêng: vô ngôn, tĩnh lặng và buông xả.
Bên trái ngôi chùa, sen nở ngát hương dưới hồ như tô điểm cho bức tranh thêm sức sống. Mái tam quan được giữ nguyên vẻ cổ kính với mái ngói nâu đỏ rêu phong. Toàn bộ cảnh chùa như ẩn hiện dưới tán cây cổ thụ, tạo cho du khách cảm giác yên bình. Tượng Mẹ được bố trí độc lập trong Quan Âm Linh Ứng, nằm ở vị trí trung tâm và quay mặt ra phía cổng chùa, hướng ra phía biển.
Người ta còn tìm đến ngôi chùa này vì muốn đàm đạo với đại đức Thích Quảng Ngộ, một nhà sư có tư chất nghệ sĩ. Nhà sư này tìm đến với thư pháp như là để tu tâm dưỡng tính, đó còn là con đường gắn với thiền học. Mỗi khi thấy tâm bấn loạn, Phật tử thường tìm đến chùa để chiêm bái Đức Phật và xin chữ người trụ trì. Các bức thư pháp mà đại đức Thích Quảng Ngộ viết thường được trích ra từ kinh Phật hay thơ của các thi sĩ nổi tiếng. Nhiều người nhận được chữ của thầy rồi vịn vào câu thơ mà đứng dậy, vượt qua sóng gió của cuộc đời. Với tâm nguyện của Phật tử nơi đây, chùa Thanh Lương đang trở thành điểm hành hương mang giá trị tâm linh độc đáo của tỉnh Phú Yên. 
 Theo Báo Tuổi trẻ

Lên bản đón xuân

Lên bản đón xuân

Cập nhật lúc 04:02, Chủ Nhật, 27/01/2013 (GMT+7)
Gần Tết Nguyên đán Quý Tỵ, tôi và một anh bạn rủ nhau làm chuyến công tác lên thăm vùng cao Tiên Yên. “Đã đến Tiên Yên thì thử vào Hà Lâu thăm các cô giáo “cắm bản” đi!” - Anh bạn tôi rủ rê. Và cả hai háo hức lên đường...

“Hà Lâu xa cách quá chừng...”

Con đường từ thị trấn Tiên Yên đến xã Hà Lâu chỉ khoảng 30 cây số. Đường đẹp có thể đi bằng xe ô tô được. Nhưng đấy mới là điểm trường chính (thôn Bắc Lù), còn muốn vào các điểm trường ở các bản khác phải vượt qua hàng chục cây số trèo đèo lội suối. Chiếc xe máy của tôi ì ạch bò lên từng con dốc. Có đoạn nó như người đuối sức, thở không ra hơi. Rồi bất chợt bốc đầu chực quay lại. Có lẽ biết chúng tôi không phải là “dân chơi thứ thiệt” với trò bốc đầu, chiếc xe hất văng khổ chủ xuống đường. Thế là gửi xe, cuốc bộ lên dốc và kéo quần lội suối. Có khi đánh bệt bên đường mà thở. Anh bạn tôi bày trò nhại thơ Nguyễn Bính cho đỡ mệt: “Hà Lâu cách bốn quả đồi/ Cách ba con suối cách đôi cánh rừng/ Hà Lâu xa cách quá chừng/ Em van anh đấy anh đừng thương em…”. Thầy giáo Vi Đức Phúc, Hiệu trưởng Trường phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Hà Lâu, vừa dẫn đường vừa kể: “Vất vả lắm các anh ạ. Đã có đến 3 lần trường chúng tôi suýt chút nữa thì mất 3 cô giáo vì lũ cuốn, vì ngã và vì rắn cắn rồi đấy. Còn chuyện vồ ếch thì… như cơm bữa”. Cứ đi như thế chừng tám cây số thì đến được Bản Danh. Đây là một bản nhỏ của xã Hà Lâu với vài chục nóc nhà, tường làm bằng nứa nện đất. Họa lắm mới thấy một căn nhà được xây kiên cố. Trường học cũng chẳng khá hơn. Gọi là trường cho sang vậy thôi chứ thực chất là mấy lớp học ghép bằng tranh, nứa bên cạnh khu chăn nuôi của bà con dân tộc. Trâu bò đâu chẳng thấy mà chỉ thấy phân chất đống lên trên sàn gỗ bay mùi ô uế lên các lớp học cách đó mấy bước chân. Có 2 phòng học tạm với 4 lớp tiểu học chia làm 2 buổi. Mỗi lớp có chừng khoảng 10 học sinh. Đứa nào cũng gầy gò, ăn mặc rất phong phanh. Chúng lạ lẫm nhìn chúng tôi, vai xo lại vì rét. Nhìn học sinh của mình đầy ái ngại, cô giáo Bế Thị Khang, giáo viên điểm trường Bản Danh, nói như thanh minh: “Các em ở đây đều thiếu áo ấm. Chúng tôi mới mua bạt về che chắn xung quanh lớp cho bớt rét đấy”.
Nụ cười bé thơ.
Nụ cười bé thơ.
Từ Bản Danh chúng tôi đi khoảng gần chục cây số nữa mới đến được bản Nà Hắc. Nà Hắc là bản xa nhất của xã Hà Lâu; như một thung lũng nhỏ với bốn bề là núi. Tôi cảm nhận được không khí âm u hơn, cái rét như cắt cứa hơn khi đến đây. Như đọc được tâm trạng của tôi, thầy giáo Vi Đức Phúc bảo: “Nà Hắc nghĩa là “ruộng tối”, ở đây thời tiết lạnh hơn, ít ánh sáng hơn các nơi khác. Cuộc sống của bà con dân bản cũng vì thế mà rất khó khăn”. Nguồn sống chủ yếu của toàn bộ 25 hộ ở bản này dựa vào lâm nghiệp. Nếu như Hà Lâu là xã khó khăn nhất của huyện Tiên Yên thì Nà Hắc chính là nơi khó khăn nhất. Đất đai thì nhiều thật đấy nhưng cơ sở hạ tầng vừa thiếu lại vừa yếu, cộng với khả năng canh tác của người dân còn lạc hậu đã làm cho cái nghèo cứ đeo bám dai dẳng. Do vậy, điểm trường Nà Hắc là một trong 10 điểm trường thử thách bước chân của các thầy cô giáo miền xuôi trong bao năm nay. Muốn đến trường phải vượt qua hàng hơn chục con dốc, 2 con suối rất trơn. Nơi đây còn xa xôi hơn vì nhiều thứ “không”: Không đường cấp phối vào bản, không điện lưới, không cả sóng điện thoại...
Thầy trò sửa sang lớp học chuẩn bị đón chào xuân mới.
Thầy trò sửa sang lớp học chuẩn bị đón chào xuân mới.
Các thầy cô giáo ở Nà Hắc tiếp đón chúng tôi trong ánh điện yếu ớt của máy phát bằng tua-bin nước đặt ở dưới suối. Huệ, một cô giáo trẻ, cho biết: “Thỉnh thoảng chúng em phải ra ngoài trung tâm chứ ở đây chẳng liên hệ được với ai. Muốn nói chuyện điện thoại phải trèo lên núi mới có sóng”. Nhà ở thì được nện bằng đất, mưa to gió lớn, đất ấy gặp nước là mủn ra ngay. Có nhiều thầy cô trẻ quê ở xa, có người mãi tận Hải Phòng vào đây dạy hợp đồng. Lương giáo viên thấp, chỉ khoảng gần 3 triệu, nên hóa ra chuyện không có điện, nước máy, gas v.v.. lại… hay, vì bớt đi một khoản chi phí không nhỏ cho các giáo viên ở đây! Nước dưới suối, củi ngoài rừng, rau trồng bên lớp học. Và cuộc sống “tự cung tự cấp” cứ lặng lẽ trôi qua. Mùa đông cũng lặng lẽ đi qua…
Lớp học những ngày cuối đông.
Lớp học những ngày cuối đông.
Nơi mùa xuân đến sớm...
Khi hơi men đã ngấm đến mềm môi, tôi chạy xuống bếp định bụng tỉ tê nói chuyện với cô giáo Huệ. Cô vẫn đang chăm chú thổi lửa. Chợt đôi má cô ửng đỏ. Và tôi biết, dù Nà Hắc có xa xôi thì mùa xuân cũng đã về rồi...
Dù khó khăn là vậy nhưng các thầy giáo, cô giáo vẫn cứ phải bám trường, bám lớp. Có điểm trường xa quá, giáo viên lâu lâu mới được về nhà một lần. Cô giáo trẻ Lý Thị Lùng, nhà ở Bản Buông cách trường 9 cây số, cho biết: “Ngày trước em đi học vất vả lắm, nên bây giờ càng thương các em học sinh hơn. Em đã cố gắng học tập để trở lại vùng cao dạy chữ cho các em nhỏ”. Được biết, Lùng là một trong số ít những học sinh dân tộc của trường Hà Lâu đã học lên cao và quay trở lại làm giáo viên cắm bản. Còn lại đa số giáo viên đều là người từ nơi khác đến. Những lớp học đơn sơ, những đứa trẻ nhút nhát… đã trở thành người thân, thành quê hương của họ. Anh Vi Đức Phúc cho biết thêm: “Dân bản quý thầy giáo lắm. Có cái gì là họ cũng đều mang cho thầy giáo hết. Đó cũng là động lực để các thầy cô ở lại. Ban ngày các thầy cô giáo ở bản dạy chữ cho lũ trẻ. Tối đến họ lại đứng lớp xóa mù cho bà con. Có được cái chữ, dân bản sẽ đỡ khổ hơn, sẽ bớt đi những hủ tục lạc hậu”. Họ vận động bà con sống theo lối sống mới, chăn nuôi xa nhà ở, vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hết giờ học là cả thầy và trò lại cùng nhau kiếm tre nứa, bạt, nguyên vật liệu về sửa sang lớp học chống chọi lại mùa đông giá rét. Ai cũng muốn trong mùa xuân này trường lớp được khang trang hơn. Các thầy cô còn cùng với dân bản chặt cây, chuẩn bị chôn cột điện kéo ánh sáng điện lưới quốc gia về với bản. Chính các thầy cô giáo vùng cao đã mang về mùa xuân đầy hy vọng cho bản làng.

Mùa xuân thường đến sớm với dân bản. Chả là khi ở Bản Danh, tôi cứ thắc mắc là tại sao nhà trường vừa mới may áo ấm cho học sinh mà rét thế lại không thấy các em mặc? Thầy Vi Đức Phúc cười giải thích: “Không phải các em ấy không rét đâu. Các em muốn chờ đến Tết mặc cho mới ấy mà. Mấy ngày nữa thôi là họ sẽ đón Tết”. Thì ra, dân bản ăn Tết cả tháng trời, bắt đầu từ khoảng ngày 20 Âm lịch. Cả bản Nà Hắc có 25 hộ, mỗi hộ sẽ chịu trách nhiệm mời toàn bộ bà con trong bản đến ăn Tết một ngày. Xoay vòng như thế bao giờ hết lượt thì thôi. Dân bản không quá quan trọng món ăn ngày Tết. Cứ có rượu, thịt, có bánh chưng là được. Nhà nào sang thì có thịt thú rừng sấy khô. Còn lại nhà nào có gì thì dùng nấy, có ít dùng ít có nhiều dùng nhiều. Nếu có khách phương xa đến thì họ càng vui, tiếp đón thịnh tình lắm. Quả đúng như vậy. Con người nơi đây tiếp chúng tôi bằng cả tấm chân tình. Rượu do dân bản tự nấu từ khoai, sắn. Cá bắt dưới suối lên. Loài cá nhỏ, thơm lắm nhưng chẳng biết gọi tên là cá gì. Có người gọi là cá lửa. Chẳng biết có lửa thật không nhưng nhắm nháp thứ cá ấy với rượu khoai thấy rất ấm lòng. Có người lại đi bắt ngan, làm thịt lợn, người khác lại mang rượu ngâm với một loại cây rừng ra mời anh em chúng tôi. Vừa uống rượu với chúng tôi, thỉnh thoảng cô giáo Huệ lại chạy xuống bếp thổi lửa. Trên bếp có một cái nồi gì đó rất to. Tôi đùa, nói trêu Huệ: “-Em đun nước thịt voi đãi bọn anh hay sao mà nấu nồi to thế?”. Huệ cười, lém lỉnh: “-Bọn em đun nước tắm đấy anh ạ. Tết nhất đến nơi rồi phải tắm cho sạch sẽ thơm tho chứ. Còn thịt voi ấy à, anh cứ để mấy anh kia về đi, ở lại với bọn em thì đừng nói là thịt voi mà thịt… gì cũng có!”. Mấy cô giáo khác mách nhỏ với tôi rằng, cô giáo Huệ xinh quá nên được nhiều trai bản để ý, dân bản chiều cô lắm. Tối nào trai bản cũng đứng ở cửa phòng cô. Họ rủ cô đi chơi, đi nhảy lửa, nhảy sạp… Có anh trai bản đã 40 tuổi rồi còn tuyên bố nếu không lấy được cô Huệ thì suốt đời sẽ không lấy vợ… “-Thảo nào mà khoảng sân đất trước cửa phòng các cô cỏ không thể mọc được!” - Tôi ngó lơ ra sân và thoáng mỉm cười với phát hiện ấy của mình. Cỏ cháy vì lửa, cỏ nát dưới bàn chân những chàng trai bản vạm vỡ. Thực sự, các cô giáo dưới xuôi lên đây đã mang về cho bản một không khí sôi nổi, tươi vui. Đó là những cô Sinh, cô Thảo, cô Châu, cô Huệ v.v.. Cứ hết 3 năm, một cô giáo về xuôi, trai bản lại buồn ngơ ngẩn.

Trong buổi chiều nhập nhoạng, khi hơi men đã ngấm đến mềm môi, tôi chạy xuống bếp định bụng tỉ tê nói chuyện với cô giáo Huệ. Cô vẫn đang chăm chú thổi lửa. Chợt đôi má cô ửng đỏ. Và tôi biết, dù Nà Hắc có xa xôi thì mùa xuân cũng đã về rồi...
Phạm Học
Báo Quảng Ninh
,
.
.

,
.

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

Đạo diễn Hoàng Quỳnh Mai

NSƯT Hoàng Quỳnh Mai:

“Cải lương không hề mất đi trong lòng khán giả Vùng mỏ”

Cập nhật lúc 09:04, Chủ Nhật, 07/10/2012 (GMT+7)
LTS: NSƯT Hoàng Quỳnh Mai hiện công tác tại Nhà hát Cải lương Trung ương. Khán giả yêu cải lương nhớ đến chị qua các vai diễn như Nhâm trong “Điều không thể mất”, Phượng trong “Lôi Vũ”, Quỳnh trong “Nỗi đau tình mẹ” v.v. Gần đây, chị lại lui về sau ánh đèn sân khấu với vai trò của một đạo diễn. Và trong vai trò này, Quỳnh Mai cũng rất thành công trong việc kéo khán giả đến với những vở như “Gươm thiêng trao trả hồ thần”, “Cung phi Điểm Bích”, “Trọn đời trung hiếu với Thăng Long”, “Giọt đắng oan tình”, “Vú cát” v.v.

Tôi gặp NSƯT Hoàng Quỳnh Mai khi chị đang cùng Đoàn cải lương Quảng Ninh thực hiện vở diễn “Người đàn bà 13 bến nước”...

- Thưa chị, khán giả biết đến đạo diễn Hoàng Quỳnh Mai qua các vở cải lương mang đề tài lịch sử, nhưng “Người đàn bà 13 bến nước” lại là vở cải lương lấy đề tài hiện đại. Điều này có gây khó khăn gì cho chị không?

+ Tôi rất yêu mến lịch sử và luôn cố gắng khai thác những giá trị lịch sử trong các vở diễn của mình. Tuy nhiên, “Người đàn bà 13 bến nước”  không phải là vở diễn đầu tiên, mà trước khi về đây, tôi cũng đã làm đạo diễn cho một số vở diễn có đề tài hiện đại rồi. Như năm ngoái là vở diễn “Vú cát” chẳng hạn… Tất nhiên, từ những vở diễn có đề tài lịch sử chuyển sang làm những vở diễn hiện đại quả là rất khó. Khó bởi vì tính hấp dẫn của nó, cải lương vẫn hợp với những vấn đề có tính dân gian lịch sử hơn. Tuy thế, nhưng không phải không đưa được những vấn đề hiện đại vào cải lương. Chúng tôi cố gắng giữ lại chất ước lệ, mềm mại, kỳ ảo của truyền thống đem kết hợp với hơi thở hiện đại trong các vở cải lương của mình. Thậm chí, có thể nói, vở diễn này là một câu chuyện rất cũ nhưng sẽ được kể bằng lối kể rất mới...
NSƯT Hoàng Quỳnh Mai (ảnh nhân vật cung cấp)
NSƯT Hoàng Quỳnh Mai (ảnh nhân vật cung cấp)
- Lại bàn về lối kể chuyện của cải lương, tôi nhớ, có lần, chị đã nói: “Với cải lương, không thể vội vã”. Vậy trong nhịp sống công nghiệp hối hả của Quảng Ninh, cải lương có cần nhanh gọn không, thưa chị?

+ Đúng là tôi đã nói thế. Nhưng tôi lại nghĩ, khán giả Quảng Ninh thích tìm đến với những bộ môn giải trí mang tính công nghiệp, nhanh khoẻ. Vì thế, cải lương Quảng Ninh cần một tiết tấu nhanh gọn, bắt nhịp được với đời sống công nghiệp chứ không thể ề à, uỷ mị. Anh cũng thấy rồi đấy, tất cả những điều đó chúng tôi đã đưa được vào vở diễn này và được Hội đồng nghệ thuật đánh giá cao ở tính chất hiện đại...

- Nói đến cải lương là người ta nhớ đến vùng sông nước Nam bộ. Vậy mà chị và các đồng nghiệp lại phát triển cải lương ở miền Bắc và cụ thể là Quảng Ninh. Chị thấy khán giả Vùng mỏ đón nhận Cải lương như thế nào?

+ Đúng như anh nói, cái nôi của cải lương là Nam bộ nhưng cải lương đã nhanh chóng lan toả ra khắp cả nước. Trong cuộc hành trình từ Nam ra Bắc ấy, cải lương đã dừng chân ở Quảng Ninh và rồi tôi nghĩ nó còn phát triển mạnh ở đây nữa. Thực ra, những năm 80, cải lương Bắc đã phát triển rất mạnh. Riêng ở Quảng Ninh, từ năm 1957 cải lương đã có dấu ấn mạnh mẽ trong lòng công chúng Vùng mỏ (tiền thân là Đoàn cải lương Lúa vàng). Như anh vừa xem đấy, họ cùng nhau thể hiện một tác phẩm mà câu trả lời rõ nhất là sự yêu mến của khán giả. Cải lương không hề mất đi trong lòng khán giả Vùng mỏ...

- Những ấn tượng của chị khi đến Hạ Long và cộng tác với Đoàn cải lương Quảng Ninh?  

+ Tôi thấy khán giả ở đây vô cùng đáng yêu. Tôi thích cái nhịp sống công nghiệp này. Năm nào tôi cũng muốn xuống Hạ Long vài lần. Mỗi lần đến với Vùng mỏ là tôi như thể được trở về ngôi nhà thân thương của mình vậy. Anh em ở đây làm việc, chia sẻ những khó khăn vất vả với nhau làm tôi rất xúc động. Tất cả với tôi đều gần gũi thân thiết vô cùng… Tôi hy vọng anh chị em sẽ cùng nhau gìn giữ được “nghiệp tổ”. Và tôi nghĩ, nghệ thuật cải lương mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc như thế thì tại sao chúng ta lại không giới thiệu cải lương, với một phong cách thật “Quảng Ninh”, đến với công chúng. Quảng Ninh lại là đất du lịch nữa. Vì thế, tôi mong muốn được giới thiệu cải lương với đông đảo khán giả trong và ngoài nước. Cần thu hút hơn nữa khách du lịch đến với chúng ta và đưa khách đến rạp để xem cải lương. Tôi cũng mong muốn được đem hết sức mình đóng góp cho sự phát triển của cải lương Quảng Ninh...

- Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này!
Phạm Họ

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Nhà văn Sương Nguyệt Minh:

“Văn học trẻ Quảng Ninh có nhiều tín hiệu đáng mừng”

Báo Quảng Ninh Cập nhật lúc 10:04, Chủ Nhật, 22/07/2012 (GMT+7)
LTS. Sương Nguyệt Minh (hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội) là nhà văn đã có những thành công đáng kể trong sự nghiệp viết văn của mình. Tập truyện “Dị hương” của ông đã được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010. Một số tác phẩm của ông đã được giới thiệu trên QNCT...

Mới đây, ông được Hội VHNT tỉnh mời về làm giảng viên lớp tập huấn cho các cây viết trẻ Quảng Ninh về sáng tác truyện ngắn và ký văn học (tổ chức tại Công ty CP Than Mông Dương). Nhân dịp này, PV QNCT đã có cuộc trò chuyện với ông...

-Thưa nhà văn Sương Nguyệt Minh, tôi biết ông là người rất chăm chút cho các tài năng văn học trẻ, trong đó có những cây bút truyện ngắn. Và nhiều người trong số họ đã đạt được những thành tựu đáng kể. Vậy mà có lần tôi nhớ ông lại nói, văn học trẻ hiện nay chưa có những cây bút truyện ngắn thực sự xuất sắc...?. Ông có thể nói rõ hơn về điều này được không?
Nhà văn Sương Nguyệt Minh.
Nhà văn
Sương Nguyệt Minh.
+ Tôi nói “chưa thực sự xuất sắc” là trong sự so sánh với đòi hỏi của công chúng, của thời đại. Anh thấy đấy, trong văn học Việt Nam giai đoạn hiện nay chưa có truyện ngắn nào ra đời mà ngay lập tức gây “chấn động” kiểu như “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp những năm đầu thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, văn xuôi của chúng ta đang có một nền tảng rộng và vững chắc. Đỉnh cao như kiểu Phanxipang hay Ngọc Linh Sơn thì chưa có, nhưng chúng ta cũng đã có cả một đội ngũ người viết “trùng điệp” như dãy Trường Sơn, chứ không hề “lô nhô” kiểu bát úp ...

- Vậy trong cái “dãy Trường Sơn” ấy, những cây bút trẻ Quảng Ninh đứng ở vị trí nào, thưa ông? Là người được mời làm thành viên của Hội đồng giám khảo cuộc thi truyện ngắn trên Báo Văn nghệ, ông thấy những tác phẩm mà các cây bút trẻ Quảng Ninh gửi đến có gì đáng chú ý? Ông có nhận xét gì về lực lượng viết văn này?

+ Tôi đã đi rất nhiều nơi nhưng tôi thấy, dường như, ở các tỉnh có rất ít các tác giả trẻ viết văn xuôi. May mắn thay, gần đây ở Quảng Ninh có một số cây bút trẻ rất đáng chú ý. Công bằng mà nói, có mấy cây bút xứng tầm “tác giả” chứ không còn là “cây bút mới” nữa, có thể phải gọi họ là “nhà văn” mới đúng. Tuy nhiên, họ cũng còn viết tương đối ít, mỏng manh. Trong thời gian tới, tôi nghĩ, nhất định tác phẩm của họ sẽ dày dặn hơn. Theo tôi, ở đây có mấy cây bút có thể “đối thoại” được với các tác giả viết văn xuôi ở các tỉnh khác. Đây là tín hiệu đáng mừng cho văn học Quảng Ninh...

- Cụ thể như những tác giả nào, thưa ông?

+ Ít nhất, cũng có ba, bốn tác giả khiến tôi chú ý. Như Cao Nguyệt Nguyên, Đinh Phương, Hàn Băng Vũ v.v.. Với Cao Nguyệt Nguyên, tác giả này có lối viết rất văn chương, câu chữ mượt mà và thanh thoát. Đặc biệt, cô đã thoát khỏi lối viết “kể chuyện” dông dài mà rất nhiều người đi trước thường mắc phải. Hình ảnh trong truyện của Cao Nguyệt Nguyên cứ ẩn hiện thấp thoáng sau lớp ngôn từ hết sức kiệm lời mà đầy ám gợi. Đinh Phương lại có lối viết khác. Phương tỏ ra có nghề trong tổ chức kết cấu truyện ngắn. Tác giả này dám xông vào những gì bộn bề và nóng hổi của hiện thực đời sống đương đại. Tuy thế, Đinh Phương không rơi vào sự xô bồ mà lại rất văn chương, vạm vỡ và chắc nịch. Phương đã biết đưa mình vượt thoát khỏi sự giản đơn, yếu ớt và mong manh. Hàn Băng Vũ lại khác, cô là một tác giả có cuộc sống khó khăn, bị liệt cả hai chân, nhưng đã vượt lên hoàn cảnh và cũng đã khẳng định được mình. Tuy nhiên, có vẻ như truyện của cô thiếu đi một chút lấp lánh, nhân vật thường không có số phận rõ rệt. Cũng dễ hiểu thôi, Hàn Băng Vũ bị rào cản bởi số phận riêng và hạn chế vốn sống thực tế...

- Nếu so sánh với thế hệ đi trước, ông có nghĩ họ - những cây viết trẻ này - sẽ làm được một điều gì đó cho sự nghiệp văn học Quảng Ninh nói riêng, cho văn học cả nước nói chung hôm nay và ngày mai không, thưa ông?  

+ Tôi tin tưởng vào thế hệ tương lai, bởi đây cũng là quy luật của cuộc sống. Thế hệ của chúng tôi đã có câu trả lời đầy đủ cho câu hỏi “Tôi là ai?” rồi. Không còn gì quá bí ẩn, không có câu hỏi lớn nào cần trả lời nữa. Thậm chí, có một số người đã thành danh, giờ đây, chưa công bố tác phẩm người ta đã biết anh ta viết gì và đạt đến tầm nào. Số khác thì lại bị đời sống áo cơm làm cho hụt hơi, đến mức phải từ bỏ nghề viết. Tôi khâm phục thế hệ trẻ hôm nay. Họ chỉ mới có hai mươi, hai mốt tuổi thôi mà đã viết được những cái mà thế hệ chúng tôi không thể nào có nổi. Xuất phát điểm của họ cao hơn chúng tôi ngày xưa rất nhiều...
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
Hải Dương